vanban.org

Bản án 143/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 14/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ

quan, tổ chức”. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1Điều 51; Điều Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến T phạm tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THÁI NGUYÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 143/2020/HSST
Ngày 14/5/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tứ Xuân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Lan Hƣơng

2. Ông Phạm Đức Long

Thư ký phiên tòa: Bà Ma Thị Huyền Nhung, Thƣ ký Tòa án nhân dân

thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái

Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Việt, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 05 năm 2020, tại Hội trƣờng Tòa án nhân dân thành phố

Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 205/2020/TLST-HS, ngày 17 tháng 4 năm 2020, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 210/2020/QĐXXST- HS ngày 29 tháng 4 năm 2020, đối với bị cáo:

Nguyễn Tiến T, tên gọi khác: Không. Sinh ngày 05/12/1983. Nơi

ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 3 cũ (nay là tổ 02), phƣờng T, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Th và bà Đàm Minh T1; Có vợ Ninh Huyền N (đã ly hôn), vợ thứ hai Nguyễn Thị L, có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân: Tại Quyết định số 121/QĐ/XPVPHC ngày 14/4/2002, Công

an thành phố Thái Nguyên xử phạt 100.000đ về hành vi đánh nhau. Đã nộp phạt ngày 15/4/2002.

Bị cáo đang tại ngoại tại địa phƣơng. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty cổ phần dịch vụ thƣơng mại công nghệ TST

Địa chỉ: Số 2, ngõ 71/46 HVT, KT, TX, Hà Nội

Đại diện theo pháp luật: Anh Nguyễn Trƣờng S, sinh năm 1979 – Chức

vụ: Giám đốc. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Trú tại: 146 Lê Lợi, phƣờng L, thị xã ST, thành phố Hà Nội.

2. Anh Lê Văn B, sinh năm 1989. Có mặt

HKTT: Xóm H thôn HC, xã TC, huyện K, tỉnh Hƣng Yên.

* Người làm chứng:

1. Chị Nguyễn Thị Hoa H, sinh năm 1987. (Vắng mặt)

Tổ 11, phƣờng ĐQ, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên

2. Anh Nguyễn Quốc T2, sinh năm 1987. (Vắng mặt)

Ngõ 2, Hà Trì 1, phƣờng H, quận HĐ, thành phố Hà Nội.

3. Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1987. (Có mặt)

Trú tại: Tổ 3 cũ (nay là tổ 02), phƣờng T, thành phố TN, tỉnh Thái

Nguyên

4. Anh Trần Mạnh H1, sinh năm 1984. (Vắng mặt)

HKTT: Tổ 3, phƣờng T, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên

5. Anh Đào Văn T3, sinh năm 1986. (Vắng mặt)

HKTT: phố PĐP, thị trấn P, huyện ĐP, thành phố Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Do có nhu cầu mua xe ô tô cũ để sử dụng, Nguyễn Tiến T đã nhờ Đào Văn

T3 (sinh năm 1986, HKTT: phố PĐP, thị trấn P, huyện ĐP, thành phố Hà Nội) tìm ngƣời bán xe để T mua. T3 lên mạng xã hội tìm kiếm thì thấy có một nam thanh niên không quen biết đăng bán chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA CERATO, BKS: 29A-037.53. Ngày 10/4/2019, T và Trần Mạnh H1, (sinh năm 1984, HKTT: Tổ 3, phƣờng T, thành phố TN) đến thành phố Hà Nội gặp T3 để nhờ T3 dẫn đi mua xe. Theo chỉ dẫn của ngƣời bán xe, T, H và T3 đến thành phố Ninh Bình để trao đổi mua bán chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA CERATO, BKS: 29A-037.53. Tại đây, T đã thỏa thuận mua chiếc xe trên của nam thanh niên không quen biết với giá 190.000.000 đồng. Khi mua xe, T đƣợc ngƣời này giao cho các giấy tờ gồm: 01 giấy biên nhận thế chấp xe ô tô số 0813 ngày 24/02/2019 của Ngân hàng TP Bank; 01 giấy lƣu hành xe của Ngân hàng TMCP Tiền Phong (TPBank); 01 giấy đăng kiểm xe; 01 giấy bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc của chiếc xe ô tô trên. Ngƣời bán xe nói với T là đăng ký gốc của xe ô tô trên đang thế chấp tại Ngân hàng TPBank, khi nào rút đƣợc sẽ chuyển lại cho T sau.

Sau khi mua chiếc xe trên, Trung sử dụng để đi chở khách. Ngày

21/7/2019, Trung bị Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thái Nguyên kiểm tra và lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi điều khiển xe ô tô mà trong hơi thở có nồng độ cồn vƣợt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở và tạm giữ chiếc xe ô tô trên. Sau đó theo lịch hẹn Trung đến phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thái Nguyên để giải quyết, cán bộ xử lý yêu cầu T xuất trình giấy đăng ký xe ô tô bản gốc để đƣợc giải quyết trả xe. T đã liên hệ với T3 để tìm ngƣời bán xe lấy đăng ký gốc của xe nhƣng không liên hệ đƣợc với ngƣời ngày. T đã liên lạc với anh Nguyễn Quốc T2, (sinh năm 1987, địa chỉ: ngõ 2, Hà Trì 1, phƣờng H, quận HĐ, thành phố Hà Nội) để nhờ T2 tìm ngƣời làm đăng ký xe ô tô giả cho T. Do T2 không biết ai làm giả giấy tờ nên đã cho T số điện thoại của Lê Văn B, (sinh năm: 1989, HKTT: xã TC, huyện KC, tỉnh Hƣng Yên) để T tự trao đổi với B. T nhờ B làm giả đăng ký chiếc xe ô tô trên nhƣng B không tự làm đƣợc, B đã lên mạng xã hội tìm kiếm và thấy một ngƣời có tên T4 đăng tin có thể làm giả các loại giấy tờ. B đã hỏi mua của T4 đăng ký xe ô tô nhãn hiệu KIA CERATO, BKS: 29A-037.53 với giá 35.000.000 đồng. Sau đó B thông báo lại cho T thì đƣợc T đồng ý mua.

Ngày 06/8/2019, B đến thành phố Thái Nguyên gặp T và đƣa đăng ký xe ô

tô giả số 027755 cho T để giao nộp cho cán bộ phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thái Nguyên để xin xe nhƣng do T không phải chủ xe đƣợc ghi trong đăng ký xe nên đƣợc yêu cầu phải có giấy giới thiệu của chủ xe là Công ty Cổ phần Dịch vụ thƣơng mại Công nghệ T thì mới giải quyết đƣợc. Sau đó T và B đi về nhà T ở phƣờng T, thành phố TN. Tại đây, T trả trƣớc cho B30.000.000 đồng tiền làm đăng ký xe giả và tiếp tục nhờ B làm giấy giới thiệu giả của Công ty Cổ phần Dịch vụ thƣơng mại Công nghệ T, B đồng ý làm với giá 7.000.000 đồng, T hẹn sau khi lấy đƣợc xe sẽ trả cho B số tiền 12.000.000 đồng còn lại. Sau đó B tiếp tục nhờ ngƣời tên Tuấn làm giấy giới thiệu cho Trung. Ngày 07/8/2019 B gặp và đƣa giấy giới thiệu giả cho T để T giao nộp cho chị Nguyễn Thị Hoa H (sinh năm: 1987: KHTT: tổ 11, phƣờng ĐQ, thành phố TN) là cán bộ phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thái Nguyên. Thấy các giấy tờ T giao nộp có dấu hiệu bị làm giả nên chị H đã báo cáo Lãnh đạo Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thái Nguyên giữ lại để xác minh làm rõ và chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên để giải quyết. Do không lấy đƣợc xe nên T chƣa trả cho B số tiền 12.000.000 đồng. Sau khi nhận của Tsố tiền 30.000.000 đồng, B khai đã đƣa hết cho đối tƣợng tên Tuấn.

Tại bản Kết luận giám định số 51/KL-KTHS ngày 26/12/2019, Phòng kỹ

thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận:

1. Đăng ký xe ô tô số 027755 (Ký hiệu A1) là giả.

2. Hình dấu tròn đỏ có nội dung “M.S.D N: 0102622541 – CTCP 

Q.HOÀNG MAI-TP HÀ NỘI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ THƢƠNG MẠI CÔNG NGHỆ T” trên tài liệu cần giám định (Ký hiệu: A2) so với hình dấu tròn đỏ có nội dung “ S.Đ.K.K.D: 0103022005-C.T.C.P  Q.HOÀNG MAI – TP HÀ NỘI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ THƢƠNG MẠI CÔNG NGHỆ T” trên tài liệu mẫu so sánh (Ký hiệu: M2) là không phải do cùng một con dấu đóng ra.

3. Chữ ký mang tên Nguyễn Trƣờng S trên tài liệu cần giám định (Ký hiệu:

A2) so với chữ ký của Nguyễn Trƣờng S trên tài liệu mẫu so sánh (Ký hiệu: M3) là không phải do cùng một ngƣời ký ra.

Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA CERATO, BKS: 29A-037.53, quá

trình điều tra xác định tên chủ xe là Công ty Cổ phần Dịch vụ thƣơng mại Công nghệ T do anh Nguyễn Trƣờng S (sinh năm: 1979; HKTT: phƣờng Lê Lợi, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội) làm Giám đốc. Tháng 7/2014, anh Sơn đã thế chấp chiếc xe ô tô trên vào Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quân đội (MB Bank) chi nhánh Sơn Tây để vay tiền.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA CERATO, BKS:

29A-037.53, hiện đƣợc trả lại cho anh Nguyễn Trƣờng S là chủ sở hữu. Anh Sơn đã bàn giao lại chiếc xe trên cho Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quân đội (MB Bank) theo thỏa thuận thế chấp. 01 đăng ký xe ô tô giả số 027755. 01 Giấy giới thiệu giả của Công ty Cổ phần Dịch vụ thƣơng mại Công nghệ T.

Tại bản cáo trạng số 139/CT-VKSTPTN ngày 19/3/2020 của Viện kiểm sát

nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Tiến T về tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, theo khoản 1 Điều 341 BLHS.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nguyễn Tiến T khai: Bị cáo mua chiếc xe KIA CERATO, BKS:

29A-037.53 của một ngƣời đàn ông không quen biết với giá 190.000.000 đồng để đi chở khách, khi mua xe không có đăng ký xe mà chỉ có các giấy tờ lƣu hành xe của Ngân hàng TP bank do ngƣời bán cung cấp. Ngày 21/7/2019, bị cáo bị Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thái Nguyên tạm giữ xe vì hành vi vi phạm hành chính và yêu cầu bị cáo xuất trình giấy đăng ký xe ô tô bản gốc để đƣợc trả xe. Do không liên hệ đƣợc ngƣời bán xe để lấy đăng ký gốc nên bị cáo đã liên lạc và nhờ anh Nguyễn Quốc T2 tìm ngƣời làm đăng ký xe ô tô giả. Anh T2 đã cho bị cáo số điện thoại của Lê Văn B để bị cáo tự liên hệ với B. Bị cáo gọi điện nhờ B làm giả đăng ký chiếc xe ô tô trên, B đồng ý. B nói với bị cáo không tự làm đƣợc, mà phải nhờ qua một ngƣời có tên T4 trên mạng xã hội làm giả đăng ký xe ô tô cho bị cáo giá là 35.000.000 đồng. Ngày 06/8/2019, Biên đến cổng phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thái Nguyên đƣa đăng ký xe ô tô giả số 027755 cho cho bị cáo rồi cùng bị cáo đi vào phòng Cảnh sát giao thông để xin xe nhƣng do bị cáo không phải chủ xe nên đƣợc yêu cầu phải có giấy giới thiệu của chủ xe là Công ty Cổ phần Dịch vụ thƣơng mại Công nghệ T. Bị cáo giao cho B 30.000.000đ tại nhà bị cáo và lại tiếp tục nhờ Biên làm giả giấy giới thiệu của Công ty Cổ phần Dịch vụ thƣơng mại Công nghệ T với giá 7.000.000 đồng, hẹn sau khi lấy đƣợc xe sẽ trả cho B số tiền 12.000.000 đồng còn lại. Ngày 07/8/2019, B gặp và đƣa giấy giới thiệu giả cho bị cáo nộp cho chị H cán bộ phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thái Nguyên. Phát hiện các giấy tờ bị cáo giao nộp có dấu hiệu bị làm giả nên bị cáo bị cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên khởi tố. Bị cáo thống nhất với tội danh và khung hình phạt nhƣ cáo trạng đã nêu, thừa nhận việc truy tố là đúng ngƣời, đúng tội, không oan, sai.

- Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (Lê Văn B) khai: Anh quen biết bị

cáo T thông qua giới thiệu của anh Nguyễn Quốc T2, anh đƣợc bị cáo nhờ làm giả đăng ký xe ô tô KIA CERATO, BKS: 29A-037.53 và giấy giới thiệu của Công ty Cổ phần Dịch vụ thƣơng mại Công nghệ T. Do không tự làm đƣợc nên anh đã nhờ một ngƣời tên T4 quen qua mạng xã hội làm giả giúp T với số tiền 35.000.000đ với đăng ký xe ô tô, 7.000.000đ đối với giấy giới thiệu. Sau khi T4 làm xong, anh đã lên thành phố Thái Nguyên đƣa cho bị cáo và nhận từ bị cáo 30.000.000đ, bị cáo T nợ lại 12.000.000đ hẹn khi nào xong việc sẽ trả nốt. Anh Biên không thừa nhận lời khai của T nói anh đƣa giấy tờ giả cho T tại quán cà phê tại cổng Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thái Nguyên và không đi cùng T đến phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thái Nguyên vào các ngày 06 và 07/8/2019 để làm thủ tục lấy xe của T, mà cho rằng đƣa cho T các giấy tờ giả tại nhà T. Anh không biết T sử dụng những giấy tờ trên để làm gì. Còn số tiền 30.000.000đ T đƣa, anh đã trả cho T4 qua một ngƣời lái xe ôm mà không đƣợc hƣởng lợi từ việc giúp T làm giả giấy tờ.

- Sau khi kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố

Thái Nguyên trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm nhƣ nội dung bản cáo trạng đã truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS,

xử phạt Nguyễn Tiến T từ 09 đến 12 tháng tù cho hƣởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000đ.

+ Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.

+ Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

- Trong phần tranh luận bị cáo không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử

xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo đƣợc cải tạo tại địa phƣơng để chăm sóc vợ, con, thành ngƣời có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy

tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, Điều tra viên, Kiểm sát viên khi thực hiện hành vi cũng nhƣ ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận của bị cáo là khách quan phù hợp với lời khai của

ngƣờ i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, của những ngƣời làm chứng và phù hợp với những chứng cứ, tài liệu khác đƣợc thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở để xác định:

Ngày 21/7/2019, Nguyễn Tiến T bị Phòng Cảnh sát giao thông Công an

tỉnh Thái Nguyên kiểm tra và lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi điều khiển xe ô tô mà trong hơi thở có nồng độ cồn vƣợt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở và tạm giữ chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA CERATO, BKS: 29A-037.53. Do Trung mua chiếc xe ô tô trên của một nam thanh niên không quen biết và không liên lạc đƣợc với ngƣời này để lấy đăng ký xe giao nộp cho Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thái Nguyên làm thủ tục lấy xe ra. T đã liên hệ với Lê Văn B để nhờ B làm 01 đăng ký xe ô tô giả và 01 Giấy giới thiệu giả của Công ty Cổ phần Dịch vụ thƣơng mại Công nghệ T. B đã liên hệ với một nam thanh niên tên T4 quen biết trên mạng xã hội để mua cho T các giấy tờ trên. Sau khi nhận đƣợc các giấy tờ giả trên từ B, ngày 06 và 07/8/2019 T đã sử dụng để nộp cho Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thái Nguyên để làm thủ tục lấy xe ô tô vi phạm ra thì bị phát hiện, thu giữ vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Tiến T đã đủ yếu tố cấu thành tội:

“Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 341 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến

trật tự quản lý hành chính thuộc lĩnh vực quản lý và sử dụng giấy tờ, tài liệu của cơ quan tổ chức, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bản thân bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự và nhận thức rõ việc thực hiện hành vi nêu trên là vi phạm pháp luật nhƣng vì động cơ tƣ lợi cá nhân nên mặc dù biết rõ xe ô tô của mình không có đăng ký xe gốc bị cáo đã sử dụng các giấy tờ giả để nộp cho phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thái Nguyên mục đích lấy xe ra.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

đối với các bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm

hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhƣ đã nêu trên, có nơi cƣ trú rõ ràng, có đơn xin cải tạo tại địa phƣơng đƣợc chính quyền địa phƣơng xác nhận đề nghị cho cải tạo tại đị phƣơng, ông của bị cáo là ngƣời có công với cách mạng. Do vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo đƣợc cải tạo tại địa phƣơng dƣới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phƣơng và gia đình cũng đảm bảo tính răn đe và ngăn ngừa tội phạm.

Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên

không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 4 Điều 341BLHS đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần

dịch vụ thƣơng mại công nghệ T (Anh Nguyễn Trƣờng S) không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA CERATO,

BKS: 29A-037.53, quá trình điều tra xác định của Công ty cổ phần dịch vụ thƣơng mại công nghệ T đang đƣợc thế chấp cho Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quân đội (MB Bank) nên cơ quan điều tra hiện đƣợc trả lại cho anh Nguyễn Trƣờng S giám đốc Công ty T là đúng quy định. Đối với 01 đăng ký xe ô tô giả số 027755 và 01 Giấy giới thiệu giả của Công ty Cổ phần Dịch vụ thƣơng mại Công nghệ T lƣu theo hồ sơ vụ án.

Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, ngƣời có

quyền lợi nghĩa vụ liên quan và có quyền kháng cáo bản án.

Trong vụ án này còn có Nguyễn Quốc T2 là ngƣời cho T số điện thoại để

Tliên hệ với Lê Văn B nhƣng T2 không biết nội dung T liên lạc với B nên cơ quan điều tra không xử lý với T2 là có căn cứ.

Về hành vi của Lê Văn B, B là ngƣời đã trực tiếp đứng ra thỏa thuận với

bị cáo T về việc nhờ một nam thanh niên tên T4 làm giả giấy tờ cho T, đồng thời B cũng là ngƣời nhận tiền từ T để giao tiền cho T4, rồi nhận các giấy tờ giả T4 làm đƣa cho T, quá trình điều tra chƣa xác định đƣợc ngƣời tên T4. Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã trả hồ sơ yêu cầu làm rõ vai trò của B trong vụ án nhƣng Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố không khởi tố đối với Lê Văn B. Hội đồng xét xử kiến nghị với cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ hành vi của T4 và B để xử lý trong một vụ án khác.

Đối với anh Nguyễn Trƣờng S là chủ sở hữu chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA

CERATO, BKS: 29A-037.53, anh S khai đã cho một ngƣời tên H3 ở thành phố Hà Nội mƣợn chiếc xe trên để đi lại sau đó không trả cho anh. Anh S không trình báo và không yêu cầu giải quyết vụ việc nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Đối với 01 giấy biên nhận thế chấp đề ngày 27/02/2019 ghi tên Ngân hàng

TPBank; 01 giấy lƣu hành xe đề tên Ngân hàng TPBank; 01 giấy đăng kiểm; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc. Quá trình điều tra xác định Ngân hàng TPBank không cấp giấy biên nhận thế chấp và giấy lƣu hành nhƣ trên. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ

quan, tổ chức”.

1. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1Điều 51; Điều

65 BLHS năm 2015. Xử phạt: Nguyễn Tiến T 06 (Sáu) tháng tù cho hƣởng án treo thời gian thử thách 12 (Mƣời hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

(Giao bị cáo Nguyễn Tiến T cho UBND phƣờng T, thành phố TN, tỉnh

Thái Nguyên giám sát giáo dục trong thời gian thử thách).

Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện

theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.

2. Trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.

3. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số

97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nƣớc.

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, ngƣời có

quyền lợi nghĩa vụ liên quan (anh Lê Văn B), báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện của Công ty TST (anh Sơn) vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết.

Cỡ chữ