- Tranh chấp gì? án hình sự — "“Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2020.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 143/2020/HS-ST Ngày: 23-9-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Sơn.
Thư ký phiên toà: Bà Châu Nguyễn Thanh Thảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Hòa – Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số 176/2020/TLST - HS ngày 08/9/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 174/2020/QĐXXST – HS ngày 17/9/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Ngọc T; giới tính: Nữ; sinh năm 1989; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ĐKHKTT: 60/3 Trần Xuân Soạn, tổ A, Khu phố B, phường T, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Nội trợ; họ tên cha: Phan Chi H, sinh năm 1966; họ tên mẹ: Nguyễn Ngọc K (đã chết); hoàn cảnh gia đình: Bị cáo có chồng tên D, Nathan T, sinh năm 1985 (đã ly hôn); bị cáo có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2017.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 18/8/2020; bị cáo có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Ông Lê Tân T1, sinh năm: 1995 (có mặt)
Nơi cư trú: B5/123A Quốc lộ 50, ấp X, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ ngày 18/8/2020, Nguyễn Ngọc T đón xe ôm tại đường Trần Xuân Soạn, Quận 7 đến huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An để thăm mộ của mẹ. Khi đi ngang qua phòng khám nha khoa Đại Phát tại địa chỉ B5/123A, ấp 2, xã Phong Phú, huyện Bình Chánh thì T phát hiện xe mô tô biển số 66F1-569.53 của ông Lê Tân T1 (là nhân viên phòng khám) dựng phía trước, có chìa khóa gắn sẵn trên xe và không người trông coi nên nảy sinh ý định trộm xe bán lấy tiền tiêu xài. T kêu người chạy xe ôm dừng lại trả tiền xe rồi đi bộ vào phòng khám gặp anh T1 giả vờ khám răng. Sau khi được anh T1 tư vấn, T lấy lý do chờ bạn đến để cùng làm răng chung nhằm mục đích chờ cơ hội thuận lợi trộm cắp xe. Lúc này, thấy ông T1 đi ra phía sau phòng khám làm việc nên T giả vờ đi ra ngoài lấy điện thoại ra nghe để đánh lạc hướng mọi người; lợi dụng không ai để ý T dẫn xe mô tô biển số 66F1-569.53 của anh T1 xuống lề đường rồi lên xe nổ máy chạy về hướng Quận 8 thì bị bà Trương Thị Phượng A (nhân viên phòng khám) phát hiện tri hô. Lúc này, ông Nguyễn Văn Lê N gần phòng khám nghe chị Phượng A tri hô nên điều khiển xe mô tô đuổi theo T đến ngã 4 đường Quốc Lộ 50 - Nguyễn Văn Linh thì được ông Trần Xuân Sang và Đinh Công Hải Quân là lực lượng thanh niên xung phong Thành phố đang làm nhiệm vụ hỗ trợ tiếp tục đuổi theo đến trước địa chỉ A15/13 ấp 1A, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh thì bắt giữ được T cùng vật chứng đưa về Công an xã Bình Hưng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh để điều tra xử lý.
Căn cứ vào Kết luận định giá về tài sản số 2172/KL-HĐĐGTS ngày 28 tháng 8 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Bình Chánh xác định: Xe mô tô loại Wave mang biển số 66F1-569.53 có giá 10.500.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh, Nguyễn Ngọc T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng trong vụ án:
01 xe mô tô loại Wave mang biển số 66F1-569.53 và 01 chìa khóa xe, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã giao trả xe trên cho bị hại T1.
01 điện thoại di động hiệu Realme do Nguyễn Ngọc T là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo. Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh theo Biên bản giao, nhận vật chứng được lập vào hồi 11 giờ 15 phút ngày 09/9/2020.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ - VKS ngày 07 tháng 9 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội "Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đồng thời thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Quyết định Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh truy tố bị cáo. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích tính chất của vụ án những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và xử lý vật chứng theo quy định.
Bị hại ông Lê Tân T1 trình bày đã nhận lại tài sản chiếm đoạt, không yêu cầu gì về dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì hiện tại bị cáo đang nuôi hai con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị cáo trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra (BL: 86 – 94); phù hợp với lời khai của bị hại ông Lê Tân T1 (BL: 76 – 80); phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vụ án còn được chứng minh qua hoạt động điều tra như biên bản lấy lời khai, Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng, kết quả định giá tài sản…cùng các chứng cứ tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Tòa án có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 11 giờ ngày 18/8/2020, bị cáo Nguyễn Ngọc T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Wave mang biển số 66F1-569.53 có giá 10.500.000 đồng của ông Lê Tân T1 (Theo Kết luận định giá về tài sản số 2172/KL-HĐĐGTS ngày 28 tháng 8 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Bình Chánh) tại trước Phòng khám nha khoa Đại Phát địa chỉ B5/123A, ấp 2, xã Phong Phú, huyện Bình Chánh thì bị phát hiện truy đuổi bắt giữ.
Với những tình tiết được chứng minh trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Ngọc T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); nên Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phồ Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo với tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội.
[3] Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, mục đích phạm tội là muốn có tiền tiêu xài cho bản thân. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là sai trái, là vi phạm pháp luật nhưng bản tính tham lam, biếng lười lao động nên bị cáo cố ý phạm tội. Tội phạm bị cáo thực hiện là nguy hại cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, tạo tâm lý hoang mang cho nhân dân. Do đó, khi lượng hình cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian thì mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Tuy nhiên cũng xét thấy, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cáo, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản kịp thời thu hồi giao trả cho bị hại, thiệt hại chưa xảy ra, tại tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét các tình tiết giảm nhẹ nêu trên để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt được quy định tại các điểm h, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
[5] Vật chứng của vụ án:
Đối với 01 xe mô tô loại Wave mang biển số 66F1-569.53 và 01 chìa khóa, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã làm thủ tục giao trả cho bị hại ông Lê Tân T1 theo Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu được lập vào hồi 08 giờ ngày 01/9/2020, Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Realme là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo nhưng bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội, nên không xét trả lại cho bị cáo mà sẽ tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[6] Về dân sự: Bị hại Lê Tân T1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì về dân sự nên không đặt ra giải quyết.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Căn cứ vào điểm a Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333; Điều 463 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2020.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Realme .
(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh theo Biên bản giao, nhận vật chứng được lập vào hồi 11 giờ 15 phút ngày 09/9/2020).
Buộc bị cáo phải chịu số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, tính kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân TPHCM; - Công an huyện Bình Chánh; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh; - Bị cáo; - Đương sự; - Chi cục thi hành án DS H. Bình Chánh; - Sở Tư pháp, Tp.HCM; - Công an PC53; - Lưu HS. | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Hoàng Sơn |