- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "tranh chấp quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? hông chấp nhận y u cầu kháng cáo của ông Nguy n Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| T A N NH N D N TỈNH ĐỒNG TH P | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 143/2019/DS-PT Ngày: 27-5-2019 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA N NH N D N TỈNH ĐỒNG TH P
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguy n Ng c V ng.
Các Thẩm phán:
Ông Sỹ Danh Đ t;
Ông Ngô Tấn Lợi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguy n Bảo uốc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đ ng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân t nh Đồng Tháp: Ông Lê Thành Biên - i m sát vi n tham gia phiên tòa.
Trong ngày 27/5/2019, t i trụ s Tòa án nhân dân tỉnh Đ ng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 96/2019/TLPT-DS ngày 22 tháng 01 năm 2019 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2018/DS-ST ngày 12/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện H bị kháng cáo.
Theo uyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 121/2019/ Đ-PT ngày 22 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguy n đơn: Cụ Nguy n Đ, sinh năm 1920; địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện H, tỉnh Đ ng Tháp.
Đ i diện theo ủy quyền: Bà Nguy n Thị Đ, sinh năm 1961, địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện H, tỉnh Đ ng Tháp (theo văn bản ủy quyền ngày 23/5/2019). (Có mặt)
2. Bị đơn: Ông Võ Văn H, sinh năm 1953; Địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện H, tỉnh Đ ng Tháp. (Có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan:
3.1. Bà Nguy n Thị Y, sinh năm 1957
3.2. Chị Võ Thị T, sinh năm 1977
3.3. Anh Trần Minh H, sinh năm 1979 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
3.4. Anh Võ Thanh T, sinh năm 1987 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện H, tỉnh Đ ng Tháp.
Đ i diện theo ủy quyền của bà Nguy n Thị Y, chị Võ Thị T: Ông Võ Văn H, sinh năm 1953, địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện H, tỉnh Đ ng Tháp (theo văn bản ủy quyền 02/4/2018 và ngày 16/7/2018).
3.5. Bà Nguy n Thị L, sinh năm 1967; địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện H, tỉnh Đ ng Tháp. (Có mặt)
4. Người kháng cáo: Cụ Nguy n Đ - Là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ N:
- Ông Mai Văn H đại diện theo ủy quyền cụ Đ trình bày: Vào khoảng năm 1960, cụ Nguy n Đ di dân vào Miền Nam được chế độ cũ cấp diện tích đất sản xuất là 03 ha, cụ Đ sản xuất li n tục đến năm 1977-1978 thì chiến tranh bi n giới Tây Nam xảy ra n n gia đình di tản về Đ ng Nai sinh sống. Năm 1979 kết thúc chiến tranh thì gia đình cụ Đ tr về canh tác tr n phần đất cũ, đến khoảng năm 1981 Nhà nước quy ho ch làm Nông trường S H n n lấy đất của cụ Đ. Đến năm 1987, Nông trường S H giải th và giao phần đất l i cho Huyện đội huyện H quản lý, đến năm 1999 thì Huyện đội giao l i cho UBND xã T quản lý, sau đó UBND xã T cho người dân thu l i nhưng không cho cụ Đ thuê, nên cụ Đ có khiếu n i đến UBND xã T giải quyết (vụ việc chỉ trình bày bằng miệng nhưng không có gì chứng minh). Đến năm 2000, ông H đã đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất của cụ Đ và k khai rằng ngu n gốc là của cha ông H khai m .
Năm 2005, cụ Đ khiếu n i đến UBND huyện H và được giải quyết t i uyết định số 2063/ Đ-UBND.NĐ ngày 17-8-2006 về việc không chấp nhận khiếu n i đòi l i đất của cụ Đ với lý do: “Sau khi quy ho ch Nông trường S H , Nhà nước tổ chức cấp l i đất cho ông, nhưng ông không nhận đất do không có người canh tác”. Cụ Đ không thống nhất n n tiếp tục khiếu n i l n UBND tỉnh Đ ng Tháp và được trả lời bằng Công văn số 946/VPUBND-NC ngày 25-11-2008, về việc không chấp nhận khiếu n i của cụ, do hoàn cảnh gia đình khó khăn, n n đến năm 2017 cụ mới kh i kiện t i Tòa án.
Nay, cụ Nguy n Đ y u cầu ông Võ Văn H và chị Võ Thị T trả l i diện tích đất 20.821m2, thuộc thửa 3111 và 3112, tờ bản đ số 02, mục đích sử dụng: Chuyên tr ng lúa nước, đất t i ấp D, xã T, huyện H, tỉnh Đ ng Tháp.
- Ông Võ Văn H đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của chị Võ Thị T và bà Nguyễn Thị Y trình bày: Ngu n gốc đất tranh chấp là của ông Võ Văn (cha ruột của ông H) khai m , năm 1971, ông Q hy sinh đ l i cho ông H tiếp tục canh tác, đến năm 1977-1978 thì chiến tranh bi n giới Tây Nam xảy ra, n n gia đình ông H di tản. Năm 1979, kết thúc chiến tranh thì gia đình ông H tr về canh tác tr n phần đất cũ, đến năm 1982 Nhà nước thành lập Nông trường S H , phần đất của ông H được quy ho ch vào Nông trường, khi đó do hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên ông H có xin Nông trường S H được canh tác tr n phần diện tích đất của ông và ông đ ng ý nộp l i l0kg lúa/công cho Nông trường. Ông H canh tác đến năm 1989 thì Nông trường S H giải th và giao phần đất tranh chấp cho Huyện đội huyện H quản lý. Sau đó, ông H được Huyện đội cho thu canh tác hàng năm, đến năm 1999 thì Huyện đội giao l i cho UBND xã T quản lý. hi đó ông H có làm đơn xin được cấp đất, ngày 30-9-1999 thì Thanh tra huyện H lập Bảng đề nghị số 73/ĐN.TTr-ĐC, về việc đề nghị UBND huyện H xem xét, quyết định giao quyền sử dụng đất cho ông Võ Văn H, đến ngày 25-01-2000 thì UBND huyện H ban hành uyết định số 34/ Đ-UB, về việc cấp 20.000m2 đất cho ông H t i Tập đoàn 12, ấp C, xã T, đ ng thời được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Võ Văn H, thuộc thửa số 996, tờ bản đ số 02, đất t i xã T, huyện H, tỉnh Đ ng Tháp.
Năm 2015, ông H làm đơn xin được tách thửa số 996 thành 03 thửa số: 3111, 3112 và 3113, đ ng thời ngày 03-6-2015 ông H lập hợp đ ng tặng cho quyền sử dụng đất cho con ruột là chị Võ Thị T diện tích đất là l0.000m2, thuộc thửa 3111, tờ bản đ số 02, phần diện tích còn l i ông H vẫn canh tác cho đến nay. Do đó, ông H và chị T không thống nhất theo y u cầu của ông Đ.
- Chị Nguyễn Thị L trình bày: Thống nhất theo lời trình bày của ông Mai Văn H là người đ i diện theo ủy quyền của ông Nguy n Đ, không trình bày gì thêm.
- Anh Trần Minh H (chồng của chị T) trình bày: Thống nhất theo lời trình bày của ông H, phần diện tích đất thuộc thửa 3111 là của ông H cho riêng cá nhân chị T, anh H không tranh chấp, không y u cầu, m i vấn đề li n quan trong vụ án do ông H quyết định.
- Anh Võ Thanh T trình bày: Thống nhất theo lời khai của ông H, anh T không tranh chấp, không y u cầu, m i vấn đề li n quan trong vụ án do ông H quyết định.
Ngoài ra, ông H và ông H thỏa thuận giá đất t i thời đi m tranh chấp có giá trị là 45.000đ ng/m2 (Theo bi n bản thỏa thuận giá trị đất tranh chấp ngày 26-9-2018).
- Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện H đã quyết định:
hông chấp nhận y u cầu của ông Nguy n Đ về việc đòi ông Võ Văn H và chị Võ Thị T trả l i diện tích đất là 20.821 m2, thuộc các thửa 3111 và 3112, tờ bản đ số 02, t a l c t i ấp D, xã T, huyện H, tỉnh Đ ng Tháp.
Về chi phí xem xét thẩm định t i chỗ: Buộc ông Nguy n Đ chịu số tiền là 10.119.000đ ng, ông Nguy n Đ đã nộp xong, n n không phải nộp thêm.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguy n Đ được mi n nộp theo quy định pháp luật (do thuộc trường hợp là người cao tuổi).
Ngoài ra bản án còn tuy n về quyền và thời h n kháng cáo của các đương sự, quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, thời hiệu thi hành án.
- Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23 tháng 11 năm 2018, cụ Nguy n Đ kháng cáo y u cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét l i bản án sơ thẩm, buộc ông Võ Văn H và chị Võ Thị T trả l i toàn bộ diện tích đất là 20.281m2, đất t i ấp D, xã T, huyện H cho cụ Nguy n Đ.
- T i phi n tòa phúc thẩm:
+ Nguy n đơn giữ nguy n y u cầu kh i kiện, không thỏa thuận được với nhau đ giải quyết vụ án và không có cung cấp bổ sung chứng cứ mới.
+ Bị đơn: Đ ng ý theo quyết định của bản án sơ thẩm và không có bổ sung chứng cứ mới.
+ Đ i diện Viện ki m sát nhân dân Tỉnh ý kiến về giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, Hội đ ng xét xử, Thư ký, các đương sự trong thời gian chuẩn bị xét xử và t i phi n tòa đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Phần đất tranh chấp đã được Nhà nước thực hiện chính sách quản lý đất đai qua nhiều giai đo n. hi chiến tranh bi n giới Tây Nam xảy ra năm 1978 – 1979 thì đất bị bỏ hoang, sau chiến tranh thì Nhà nước quy ho ch đất hoang thành lập Nông trường S H vào năm 1981, khi Nông trường giải th thì đất được giao l i cho Huyện đội quản lý vào năm 1989, tiếp theo đến năm 1999 thì Ủy ban nhân dân xã T quản lý. Tuy nhi n, khi Nông trường S H thành lập đã giao phần đất này cho ông H thuê canh tác li n tục. uá trình sử dụng đất của ông H đã được xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21/5/2000. Do đó, ông Đ y u cầu trả đất là không có cơ s , đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Đ, giữ nguy n bản án sơ thẩm.
Sau khi nghi n cứu các tài liệu có trong h sơ vụ án đã được thẩm tra t i phi n tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng t i phi n tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA T A N:
[1] T i phi n tòa phúc thẩm, ông Nguy n Đ ủy quyền cho bà Nguy n Thị Đ; bà Nguy n Thị Y, chị Võ Thị T ủy quyền cho ông Võ Văn H, thủ tục ủy quyền là phù hợp pháp luật n n chấp nhận; anh Trần Minh H, anh Võ Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt, n n xét xử vắng mặt đương sự theo quy định của pháp luật.
[2] Ông Đ trình bày, ngu n gốc đất tranh chấp trước đây là của ông được chính quyền chế độ cũ cấp cho ông vào năm 1960, diện tích 20.821m2 t i thửa số 3111, 3112 tờ bản đ số 02, giấy chứng nhận SDĐ cấp cho ông Võ Văn H vào ngày 25/01/2000, cấp đổi giấy chứng nhận ngày 28/5/2015, đất t i ấp D, xã T, huyện H, tỉnh Đ ng Tháp. Ông Đ cho rằng, năm 1977- 1978 chiến tranh bi n giới n n ông t m đi nơi khác sinh sống, khi kết thúc chiến tranh (năm 1979) thì ông tr về canh tác tiếp tục. Theo chủ trương của Nhà nước, ông thống nhất giao đất cho Nông trường S H (Nông trường) quản lý sử dụng, tiếp theo là Huyện đội H quản lý sử dụng (do Nông trường giải th ), nhưng sau đó thì Huyện đội tiếp tục giao đất l i cho Ủy ban nhân dân xã T quản lý theo quy định của pháp luật.
[3] Ông H trình bày, ông canh tác đất từ khi Nông trường còn quản lý, với hình thức là Nông trường giao khoán cho dân sản xuất nộp sản phẩm 10kg/công/năm và khi Huyện đội quản lý cũng thống nhất cho ông tiếp tục sản xuất và ông bắt đầu canh tác li n tục đến năm 1999. Thực hiện chủ trương cấp đất của Nhà nước, ông H xin được cấp đất ngay phần đất đang canh tác và theo đề nghị của Thanh tra huyện H (Văn bản số 73/ĐN-TTr-ĐC ngày 30/9/1999), Ủy ban nhân dân huyện H ban hành uyết định số 34/ Đ-UB ngày 25/01/2000, đã giao đất cho ông H diện tích là 20.000m2, đất t i ấp C, xã T, huyện H (hiện t i đất thuộc ấp D, xã T), nay ông H được cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật (ông H tặng cho chị T diện tích thửa 3111).
[4] Việc sử dụng đất của ông H có các nhân chứng sau đây xác nhận: Ông Ph m Văn S nguyên là Giám đốc, ông Hà Đức B nguy n Phó Giám đốc của Nông trường và ông Lý Văn B đều trình bày thống nhất với nhau về quá trình sử dụng đất của ông H, như lời khai của ông H nói trên. Đ ng thời, ông Phan Xuân H (vào thời đi m Huyện đội H quản lý đất thì ông giữ chức vụ là Huyện đội trư ng) và ông Nguy n Xuân V cũng có lời trình bày xác nhận việc sử dụng đất của ông H là đúng.
Ông H1 đ i diện cho ông Đ trình bày, thời đi m Ủy ban nhân dân xã T quản lý đất, thì ông Đ có khiếu n i nhưng không được chính quyền địa phương của xã giải quyết (chỉ khiếu n i bằng lời nói). Năm 2005, ông Đ khiếu n i đến Ủy ban nhân dân huyện H và t i uyết định số 2063/ Đ-UBND-NĐ ngày 17/8/2006, của Ủy ban nhân dân Huyện đã giải quyết với nội dung là không chấp nhận việc đòi l i đất, với lý do là “sau khi quy ho ch Nông trường S H , Nhà nước tổ chức cấp l i đất cho ông, nhưng ông không nhận do không có người canh tác”. Ông H1 thừa nhận hoàn cảnh của hộ ông Đ chỉ có ông Đ và chị L (vợ của ông Đ đã chết vào năm 1998). Năm 2008, ông Đ cùng với một số hộ dân khiếu n i đến Ủy ban nhân dân Tỉnh và t i Văn bản số 946/VPUBND-NC ngày 25/11/2008 của Văn phòng Ủy ban nhân dân Tỉnh, trả lời cho các hộ khiếu n i về việc y u cầu cho các hộ này được nhận thu l i quỹ đất của Ủy ban nhân dân xã T là không th xem xét được, vì Ủy ban nhân dân xã đã giải quyết cho các hộ dân khác thu và đã đúng đối tượng. Theo Công văn số 138/UBND-NC ngày 01/6/2018 của Ủy ban nhân dân huyện H, ý kiến như sau: Các thửa đất 3111, 3112, 3113 tách từ thửa 996. Thửa 996 diện tích 20.000m2 được Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông H vào ngày 25/01/2000. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất t i các thửa đất n u tr n đúng trình tự thủ tục theo quy định. Đúng diện tích, số thửa, có đo đ c thực tế và t i thời đi m cấp giấy chứng nhận không có tranh chấp.
[5] Đ i diện Viện ki m sát Tỉnh đề nghị: Không chấp nhận y u cầu kháng cáo của ông Đ, giữ nguy n bản án sơ thẩm. Đề nghị của Viện ki m sát là có cơ s .
Án sơ thẩm xử đã có căn cứ pháp luật, nên không chấp nhận y u cầu kháng cáo của ông Đ, giữ nguy n án sơ thẩm. Các phần quyết còn l i của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
[6] Về án phí: Ông Đ kháng cáo không được chấp nhận, nhưng ông là người cao tuổi n n được mi n tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ tr n;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; đi m đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTV H14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ uốc hội.
1. hông chấp nhận y u cầu kháng cáo của ông Nguy n Đ.
Giữ nguy n bản án sơ thẩm.
2. hông chấp nhận y u cầu của ông Nguy n Đ về việc đòi ông Võ Văn H và chị Võ Thị T trả diện tích đất 20.821m2, thuộc thửa số 3111, 3112, tờ bản đ số 2, đất t i ấp D, xã T, huyện H, tỉnh Đ ng Tháp.
3. Án phí dân sự: Ông Nguy n Đ được mi n nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm và tiền án phí dân sự phúc thẩm.
4. Về chi phí xem xét thẩm định t i chỗ: Ông Nguy n Đ phải chịu chi phí xem xét thẩm định t i chỗ là 10.119.000đ (đã nộp xong).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, y u cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuy n án./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Phòng KTNV &THA- TAND Tỉnh; - V SND Tỉnh; - TAND huyện H; - Chi cục THADS huyện H; - Lưu: VT, HSVA, TDS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PH N - CHỦ TỌA PHIÊN T A Nguyễn Ngọc Vạng |