vanban.org

Bản án 143/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 24/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư niêm phong có số: 139/2018/PC54, bên trong là 0,4572 gam Heroin cùng vỏ bao bì ;

(Theo biên bản giao, nhận tài sản, vật chứng ngày 05 tháng 9 năm 2018). Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Thi Cuc - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư niêm phong có số: 139/2018/PC54, bên trong là 0,4572 gam Heroin cùng vỏ bao bì ;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị; Nghị quyết số 109/2015/QH13 Về việc thi hành Bộ Luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 143/2018/HS-ST
Ngày 24-10-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Kim Liên

Bà Nguyễn Thị Bích Lý

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hưng, là Thư ký Toà án nhân dân Quận Lê Chân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 126/2018/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị C, sinh ngày 10 tháng 5 năm 198A tại Y.B; đăng ký hộ khẩu thường trú: Km13 K.G, xã T.H, huyện Y.B, tỉnh Y.B; nơi ở: Không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Mạc Thị N (đều đã chết); không có chồng, có 01 con sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ từ ngày 25/3/2018, chuyển tạm giam ngày 28/3/2018: Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 06h40’ ngày 23/3/2018, Tổ công tác thuộc Công an phường Cát Dài kết hợp cùng Đội đặc nhiệm số 2 - Cụm đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 1 Bộ tư lệnh Cảnh sát biển làm nhiệm vụ tại đường T.N.H, khi đi đến khu vực trước cửa nhà số 42 T.N.H, phường Cát Dài, quận Lê Chân phát hiện Nguyễn Văn H, sinh năm 199B, trú quán: xã B.T, huyện A.L, Hải Phòng điều khiển xe máy biển kiểm soát 16F4-478X chở Nguyễn Thị C ngồi sau có biểu hiện nghi vấn. Khi Tổ công tác tiến đến yêu cầu dừng xe kiểm tra, C vất từ tay trái xuống đất về phía trước 03 gói giấy nhỏ màu trắng bọc nilon nghi là Heroine cách vị trí C khoảng 02 mét. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ 03 gói giấy trên, thu giữ 01 xe máy biển kiểm soát 16F4-478X của Nguyễn Văn H và dẫn giải C, H về trụ sở Công an phường Cát Dài lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Bản Kết luận giám định số 139/KLGĐ(Đ6) ngày 25/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: chất bột màu trắng trong 03 gói giấy thu giữ của Nguyễn Thị C là ma túy, có khối lượng 0,5728 gam, là loại Heroine.

Nguyễn Thị C khai: Do nghiện ma túy nên khoảng 06h ngày 23/3/2018, C thuê một người lái xe ôm không quen biết (sau này mới biết tên là Nguyễn Văn H) chở từ khu vực C.Đ đến ngõ 30 T.N.H để tìm mua ma túy về sử dụng. Sau khi đi vào ngõ được khoảng 300 mét thì C bảo H dừng xe đứng đợi, còn C tiếp tục đi bộ vào trong ngõ khoảng 70 mét thì gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) được 03 gói Heroine màu trắng bọc nilon. C cầm số ma túy vừa mua được ở tay trái, quay lại chỗ H đứng đợi rồi đi về. Khi đi đến khu vực trước cửa nhà số 42 T.N.H thấy có lực lượng Công an kiểm tra, do hoảng sợ nên C vứt 03 gói Heroine đang cầm ở tay trái xuống đất về phía trước cách vị trí C khoảng 2 mét thì bị lực lượng Công an phát hiện thu giữ, đưa C và H về trụ sở Công an phường Cát Dài lập biên bản. C không nói cho H biết việc mình mua ma túy tại ngõ 30 T.N.H.

Nguyễn Văn H khai phù hợp với lời khai của Nguyễn Thị C về việc H được C thuê chở đến ngõ 30 T.N.H, khi đi vào ngõ khoảng 300 mét thì C bảo H dừng xe đứng đợi. H không biết C đi đâu làm gì, không biết hay chứng kiến việc C mua ma túy. Sau khi C quay lại, H chở C đi đến khu vực trước cửa nhà số 42 T.N.H thì bị lực lượng Công an yêu cầu dừng xe kiểm tra, H thấy C vứt từ trên tay xuống đất về phía trước 03 gói giấy nhỏ cách vị trí C khoảng 2 mét nhưng bị lực lượng Công an thu giữ và đưa H, C về trụ sở Công an phường Cát Dài lập biên bản.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận như nội dung trên và khai số ma túy cơ quan công an thu giữ khi bắt bị cáo là của bị cáo mua về để sử dụng cho bản thân. Số tiền bị cáo dùng để mua ma túy do đi làm thuê mà có.

Tại bản cáo trạng số 138/CT-VKS ngày 04 tháng 9 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Thị C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa Nguyễn Thị C khai nhận do nghiện ma túy nên vào hồi 06 giờ 40 phút ngày 23/3/2018, Nguyễn Thị C đã có hành vi cất giữ trái phép 0,5728 gam chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân tại khu vực trước cửa nhà số 42 T.N.H, quận Lê Chân, Hải Phòng thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt giữ. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng và là người sử dụng ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bị niêm phong mang số 139/PC54 bên trong đựng lượng ma túy cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định.

Đối với Nguyễn Văn H không liên quan và không biết việc C đi mua ma túy, Cơ quan Công an đã giải quyết cho H về; nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 16F4-478X thu giữ của Nguyễn Văn H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tách ra và để tiếp tục xác minh xử lý sau; nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho C, do C không biết tên tuổi, lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân không có cơ sở để điều tra; nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Bi cáo tự bào chữa: Tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hay tranh luận với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân tham gia phiên tòa và công nhận lời luận tội đúng hành vi phạm tội, không bị oan.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án dã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016; Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015. Tại giai đoạn điều tra, truy tố, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác tại hồ sơ và vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 06 giờ 40 phút ngày 23/3/2018, Nguyễn Thị C đã có hành vi cất giữ trái phép 0,5728 gam ma túy loại Heroine tại khu vực trước cửa nhà số 42 T.N.H, quận Lê Chân với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt giữ. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng và luận tội bị cáo Nguyễn Thị C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng theo quy định pháp luật hình sự hiện hành.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý chất ma tuý của Nhà Nước, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội.

Bị cáo là người hiểu, biết tác hại của ma túy, biết pháp luật xử lý nghiêm khắc đối với những hành vi liên quan đến ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo là người từ tỉnh khác về Hải Phòng sống lang thang và phạm tội.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có;

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khai báo về hành vi phạm tội, nên cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 khi lượng hình.

Từ những phân tích trên cho thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo, để bị cáo có thời gian cách ly ma túy và phòng ngừa tội phạm chung.

- Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo không có tài sản riêng, không có công việc và thu nhập ổn định; là người sử dụng ma túy, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

- Về xử lý vật chứng:

Lượng Hêrôin trong 03 gói giấy Cơ quan Công an thu giữ của bị cáo khi bắt giữ có khối lượng 0,5728 gam, sau khi đã lấy đi giám định 0,1156 gam; lượng còn lại là 0,4572 gam cùng vỏ bao bì được niêm phong trong bì thư theo niêm phong số: 139/2018/PC54. Xét đây là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 16F4-478X thu giữ của Nguyễn Văn H, hiện chưa xác định được chủ sở hữu; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tách chiếc xe trên để tiếp tục xác minh, xử lý sau; do vậy Hội đồng xét xử không xét giải quyết.

Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho C, do C không biết tên tuổi, lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân không có cơ sở để điều tra; do vậy Hội đồng xét xử không xét giải quyết.

Đối với Nguyễn Văn H là người được C thuê chở đi, nhưng do H không biết việc C mua ma túy và C cũng không nói chở C đi mua ma tuy, nên Cơ quan Công an đã giải quyết cho H về không xử lý; nên Hội đồng xét xử không xét giải quyết.

- Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt: Nguyễn Thị C 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 25/3/2018.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư niêm phong có số: 139/2018/PC54, bên trong là 0,4572 gam Heroin cùng vỏ bao bì ;

(Theo biên bản giao, nhận tài sản, vật chứng ngày 05 tháng 9 năm 2018).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Căn cứ vào Điều 2, 26 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ