vanban.org

Bản án 143/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 18/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số:143/2017/HSST
Ngày 18 tháng 9 năm 2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Trần Hồng Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Bà Nguyễn Thanh Hải

2.Ông Đặng Xuân Hậu

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Khánh Linh - Thư ký Toà án nhân dân thà nh phố Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh - Kiểm sát viên sơ cấp

Hôm nay, ngày 18 tháng 9 năm 2017, tại Trụ sở nhà văn hóa xã Đ, thành phố T, tỉnh T, Tòa án nhân dân thành phố Thái Binh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm lưu

̀

động, công khai vu ̣ án hinh sự thu ̣ lý số 146/2017/HSST ngày 25 tháng 8 năm

̀ 2017, quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử số 158/2017/QĐXX-ST ngày 06 tháng 9 năm 2017, đối với bi ̣ cáo:

Nguyễn Ngọc T - sinh ngày 02/12/1989 tại T; Nơi cư trú: thôn 09, xã V, huyê ̣n V, tỉnh T; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: lớp12/12; Con ông Nguyễn Ngọc Q và bà Phạm Thị L; Bị cáo có một con sinh năm 2014; Tiền á n: Bản án số 43/2015/HSST ngày 29/6/2015 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh T xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 10/4/2015. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/01/2016, đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm; Tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 20/6/2017 đến ngày 23/6/2017 chuyển tạm giam cho đến nay . Hiê ̣n bị cáo đang bi ̣ ta ̣m giam ta ̣i Nhà ta ̣m giữ Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

(Bị cáo trích xuất, có mặt.)

Người làm chứ ng:

- Ông Tô Minh T, sinh năm 1958; Trú tại s ố nhà 499, tổ 09, phường T, thành phố T, tỉnh T

(Vắ ng mặt)

- Ông Trần Văn T, sinh năm 1955; Trú tại số nhà 12, tổ 06, phường T, thành phố T, tỉnh T

(Vắ ng mặt)

NỘI DUNG VỤ Á N:

Theo các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ án và diễn biến ta ̣i phiên tòa , nô ̣i dung vu ̣ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 20/6/2017, Nguyễn Ngọc T đi xe ôm từ nhà đến khu vực đường T thuộc tổ 28, phường T, thành phố T, tỉnh T với mục đích mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp và mua của một người đàn ông khoảng 50 tuổi không quen biết 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng. T nhận cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến khu vực tổ 29, phường T, thành phố T, tỉnh T thì bị tổ công tác của công an phường T, thành phố T, tỉnh T yêu cầu dừng lại kiểm tra. Trước sự chứng kiến của người làm chứng là ông Tô Minh T, sinh năm 1958; trú tại s ố nhà 499, tổ 09, phường T, thành phố T , tỉnh T và ông Trần Văn T, sinh năm 1955; trú tại số nhà 12, tổ 06, phường T, thành phố T, tỉnh T. T tự giác đưa từ lòng bàn tay trái ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói nhỏ bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, T khai nhận đó là hêrôin mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong gói ma túy sau đó mời người làm chứng và yêu cầu T về trụ sở công an phường T, thành phố T, tỉnh T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng.

Tại bản Kết luận giám định số 258/KLGĐ - PC54 ngày 20/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luâ ̣n: Mẫu gử i giám đi ̣nh của Nguyễn Ngọc T là ma túy , loại hêrôin, có trọng lượng 0,3234 gam (không phẩy ba nghin

̀ hai trăm ba mươi bốn gam).

Trong quá trinh điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, Nguyễn Ngọc T đa ̃

̀ khai nhâ ̣n toàn bô ̣ hành vi pha ̣m tô ̣i của minh.

̀

Bản cáo trạng số 153/KSĐT ngày 24 tháng 8 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh truy tố bi ̣ cáo Nguyễn Ngọc T về tô ̣i “Tàng trữ trái

̀ phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự.

̀

Tại phiên tòa, đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh vẫn giữ

̀ nguyên quan điểm truy tố Nguyễn Ngọc T về tô ̣i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bin h đề nghị Hội đồng xét

̀ xử áp du ̣ng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 điều 48; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; Căn cứ vào những chinh sách có lợi cho bị cáo

́ do thay đổi chinh sách pháp luâ ̣t của Nhà nướ c theo Nghị quyết số 41/2017/QH14

́ ngày 20/6/2017 của Quốc hội và khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bô ̣ luâ ̣t Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo mứ c án t ừ 24 tháng đến 30 tháng tù. Thờ i ha ̣n tù tinh từ ngày bi ̣ cáo bi ̣ ta ̣m giữ 20/6/2017.

́

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trướ c khi Hô ̣i đồng xét xử vào phòng nghi ̣ án , bị cáo trình bà y lờ i nói sau cùng, xin Hô ̣i đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

̀

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A HỘI ĐÔNG XÉ T XƢ̉ :

Trên cơ sở nô ̣i dung vu ̣ án , căn cứ vào các tài liê ̣u trong hồ sơ vu ̣ án đa đượ̃

c thẩm tra, xét hỏi, tranh luâ ̣n ta ̣i phiên tòa, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n thấy như sau:

Về hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình, Điều tra viên , Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh , Kiểm sát viên

̀ trong quá trinh điều tra , truy tố đa thự̃

c hiê ̣n đúng về thẩ m quyền, trình tự, thủ tục

̀ quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự . Quá trình điều tra và tại phiên tòa , bị cáo,

̀ người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoă ̣c khiếu na ̣i về hành vi , quyết đi ̣nh của Cơ quan tiến hành tố tụng , ngườ i tiến hành tố tu ̣ng . Do đó , các hành vi , quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng , ngườ i tiến hành tố tu ̣ng đa thự̃

c hiê ̣n đúng theo quy định của pháp luật.

Lờ i khai của bi ̣ cáo ta ̣i phiên tòa hôm nay như đã khai trước cơ quan điều tra, phù hợp với lờ i khai của những ngườ i làm chứ ng là ông Tô Minh T(bút lục số 48 – 49), ông Trần Văn T (bút lục số 50 - 51) được chứng minh bằng các tài liệu, chứ ng cứ như: Biên bản bắt ngườ i pha ̣m tô ̣i quả tang (bút lục số 03- 06); Biên bản niêm phong vâ ̣t chứ ng (bút lục số 20); Bản kết luận giám định số 258 ngày 20/6/2017 (bút lục số 23), cùng các tài liệu, chứ ng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đã có đủ cơ sở kết luận: khoảng 07 giờ ngày 20/6/2017, tại khu vực đường T, thuộc tổ 29, phường T, TP Thái Bình, Nguyễn Ngọc T bị bắt quả tang tàng trữ trái phép 0,3234 gam Hêrôin mục đích để sử dụng cho bản thân

Bị cáo là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển

hành vi của mình.

Hành vi của Nguyễn Ngọc T là nguy hiểm cho xã hội , đa xâm pha ̣̃

m chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất gây nghiê ̣n. Ma túy là vật cấm lưu hành, bởi tác hại của nó khi sử dụng không những làm sa sút về sức khỏe trí tuệ mà còn hủy hoại đạo đức nhân cách con người, là tác nhân lan truyền đại dịch HIV/AIDS, là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác gây ảnh hưở ng đến trâ ̣t tự trị an.

Bị cáo tuy nhận thức được tác hại của ma túy và hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện . Theo bản kết luâ ̣n giám đi ̣nh số 258 ngày 20/6/2017, gói ma túy thu của Nguyễn Ngọc T là hêrôin, có trọng lượng 0,3234 gam.

Như vâ ̣y, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tô ̣i “Tà ng trữ trá i phé p chất ma tú y” theo khoản 1 Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự năm 1999.

̀

Điều 194 Bộ luật hinh sự năm 1999 quy đi ̣nh:

̀

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

Xem xét nhân thân và các tinh tiết giảm nhe ̣ , tăng nă ̣ng trách nhiê ̣m hinh sự

̀

̀ của bị cáo thấy.

Bị cáo có một tiền án về tội trộm cắp tài sản mới chấp hành xong hình phạt chưa được xóa án tích lại phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.

Bị cáo thành kh ẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưở ng tinh tiết giảm

̀ nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; .

Điều 249 Bộ luật hinh sự năm 2015 quy đi ̣nh:

̀

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a)………..

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…”

Theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1 Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự năm 1999 mứ c hinh

̀

̀ phạt tù từ 02 năm đến 07 năm là cao hơn so vớ i mứ c hinh pha ̣t tù từ 01 năm đến 05

̀ năm quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1 Điều 249 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự năm 2015. Căn cứ vào những

̀

quy đi ̣nh có lợi cho bi ̣ cáo do thay đổi chinh sách p háp luật Hình sự của Nhà nước

́

theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bô ̣ luâ ̣t Hình sự năm 2015; Căn cứ vào tinh chất , mứ c đô ̣ pha ̣m

́ tô ̣i, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiê ̣m hinh sự, nhân thân của bi ̣ cáo, HĐXX

̀

xét thấy cần lên một mức án tương xứng với hà nh vi pha ̣m tô ̣i của bi ̣ cáo và cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian , mớ i đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, khi Quyết định hình phạt HĐXX có xem xét cân nhắc giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật để bị cáo yên tâm cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo là người nghiện ma túy, có hành vi tàng trữ ma túy vớ i mu ̣c đich sử

́ dụng, vì vậy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vâ ̣t chứ ng: Số ma túy thu giữ của bị cáo là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần ti ̣ch thu tiêu hủy.

Trong quá trinh điều tra , truy tố , xét xử bị cáo đều khai đã mua ma túy của

̀ mô ̣t ngườ i đàn ông kho ảng 50 tuổi, không quen biết ở khu vực đường T, thuộc tổ 28, phường T, thành phố T. Qua điều tra, không xác đi ̣nh được cu ̣ thể ngườ i bán ma túy cho bị cáo nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý.

Về án phi: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

́

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

́

QUYÊT ĐI ̣NH

1. Tuyên bố: Bị cáoNguyễn Ngọc T phạm tội“Tà ng trữ trá i phé p chất ma tú y”.

2. Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội ; khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 Bô ̣ luâ ̣t Hình sự năm 2015.

Xử pha ̣t bi ̣ cáo Nguyễn Ngọc T 02(hai) năm tù. Thờ i ha ̣n chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 20/6/2017.

3. Về xƣ̉ lý vâ ̣t chƣ́ ng: Áp dụng Điều 41 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự và Điều 76 Bô ̣ luâ ̣t

̀ tố tu ̣ng hinh sự;

̀

Tịch thu tiêu hủy 0,3072 gam hêrôin cùng bao gói niêm phong số 258/KLGĐ hoàn trả sau giám định ( đã chuyển Chi cục Thi hành án dân s ự thành phố Thái Bình quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/8/2017)

4. Về á n phí : Áp dụng Điều 99 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự ; Nghị quyết số

̀ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Ngọc T phải nộp 200.000 đồng án phi hinh sự sơ thẩm.

́ ̀

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 18/9/2017. Nơi nhâ ̣n:

̀

̉

Cỡ chữ