vanban.org

Bản án 143/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 21/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và tội Trộm cắp tài sản.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Lò Văn T bồi thƣờng cho ngƣời bị hại Trần Văn Q, nơi ĐKHKTT và nơi ở : Bản T, xã N, huyện S, Sơn La số tiền 3.300.000VNĐ ( ba triệu ba trăm ngàn đồng ) trong đó: 1.600.000VNĐ là số tiền bị cáo … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T tàng trữ chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 143/2017/HSST
Ngày 21/9/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Toàn

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Quàng Văn Tiện

Bà Phạm Thị Hƣơng

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà:

Bà Hoàng Thị Nhung - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Sông Mã.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà:

Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên

Trong ngày 21 tháng 9 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 119/2017/HSST ngày 28 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn T ( tên gọi khác: Lò Văn U ) - Sinh ngày 23/9/1992; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: bản M, xã M, huyện S, Sơn La; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt nam; Nghề nghiệp: Lao đô ̣ng tƣ̣ d o; Trình độ văn hóa: 5/12; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Lò Văn N, con bà Quàng Thị P hiện ở bản M, xã M, huyện S, Sơn La; Bị cáo chƣa có vợ, con: Chƣa có; Tiền án: Ngày 08/6/2011 bị Toà án nhân dâ n huyê ̣n Sốp Cô ̣p xƣ̉ pha ̣t 24 tháng tù về tô ̣i Tàng trƣ̃ trái phép chất ma tuý và tô ̣i trốn khỏi nơi g iam giƣ̃ , ngày 19/9/2013 bị Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp xử phạt 30 tháng tù về tô ̣i Trô ̣m cắp tài sản ; Tiền sƣ̣: Không; Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 17/4/2017 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Ngƣời có quyền lợi liên quan:

1. Ông Lò Văn N Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản M, xã M, huyện S, Sơn La - Vắng mặt.

2. Anh Lường Văn T Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản M, xã N, huyện S, Sơn La - Vắng mặt.

* Ngƣời bị hại: Anh Trần Văn Q - Sinh năm 1991 Nơi ĐKHKTT và nơi ở : Bản T, xã N, huyện S, Sơn La.Có mặt

NHẬN THẤY:

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau:

Hồi 22 giờ ngày 17/4/2017 Tổ công tác Công an huyê ̣n Sông Ma phỗ

́i kết hợp vớ i Ban công an thi ̣ trấn Sông Ma làm nhiệm vụ tại Tỗ

̉ dân phố 11 thị trấn Sông Mã, Sông Mã phát hiện bắt quả tang Lò Văn T trú tại bản M, xã M, huyện S và Lƣờng Văn T trú tại bả n M, xã Nu, S đang có hành vi sƣ̉ du ̣ng trái phép chất ma tuý ta ̣i phòng nhà tro ̣ của anh Nguyễn Quang T thuô ̣c Tổ dân phố 11 thị trấn S. Thu giƣ̃ ca ̣nh vi ̣ tri ngồi của Lò Văn T và Lƣờ ng Văn T 01 gói nilon màu

́ xanh bên trong chƣ́ a 05 viên nén màu hồng nghi là Hồng phiến và mô ̣t số cu ̣ c bô ̣t màu trắng nghi là Heroin, 01 tẩu tƣ̣ chế bằng chai nhƣ̣a màu trắ ng. Ngoài ra, còn tạm giƣ̃ của Lò Văn T 01 xe mô tô, tạm giữ của Lƣờng Văn T 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng.

Ngày 19/4/2017 tại Phòng ky thuâ ̣̃

t hinh sƣ̣ Công an tinh Sơn La đã tiến̉

̀

hành mở niêm phong, cân tịnh trích mẫu giám định số vâ ̣t chƣ́ ng nghi là ma tuý đã đƣợc thu giữ, kết quả : 05 viên nén màu hồng có trọng lƣợng 0,48 gam, đa ̃ dùng hết làm mẫu giám đi ̣nh ky hiê ̣u T1; chất bột màu trắng có trọng lƣợng 0,19 gam, đã dùng hết làm mẫu giám đi ̣nh ký hiệu T2.

Tại kết luận giám định số 446/KLMT ngày 21/4/2017 của Phòng ky thuâ ̣̃

t hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gƣ̉ i giám đi ̣nh ký hiệu T2 là chất ma tuý, loại chất Heroin, trọng lƣợng mẫu gửi giám định là 0,19 gam. Mẫu gƣ̉ i giám đi ̣nh ký hiê ̣u T1 là chất ma tuý, loại chất Methamphetamin, trọng lƣợng mẫu gƣ̉ i giám định là 0,48 gam.

Quá trình điều tra Lò Văn T khai nhận: Khoảng 14h00’ ngày 17/4/2017 T điều khiển xe mô tô BKS 26K4-1958 của gia đình từ nhà ở bản M , xã M, huyện S đi ra thi ̣ trấn Sông Mã

, huyện Sông Mã chơi có mang theo số tiền 230.000VNĐ, đi đến khu vƣ̣c bản Khua Ho ̣ , xã Huổi Mô ̣t, Sông Ma thĩ T hỏi

̀ mua đƣợc của mô ̣t ngƣờ i đàn ông dân tô ̣c Mông không quen biết 06 viên Hồng phiến với một số cục nhỏ Heroin với giá 230.000VNĐ, T dùng mảnh nilon màu xanh gói số Hồng phiến lẫn Hero in la ̣i cất vào túi áo ngƣ̣c đang mă ̣c rồi điều khiển xe ra thi ̣ trấn Sông Mã . Đến khoảng 20h cùng ngày khi T đi qua Tổ dân phố 6 thị trấn Sông Mã thì gặp Lƣờ ng Văn T ở bản M, xã N, huyện S đang ngồi ăn bún trong quán , do quen biết nhau tƣ̀ trƣớ c nên Lò Văn T vào quán ngồi nói chuyê ̣n vớ i Lƣờng Văn T, Lƣờng Văn T có hỏi Lò văn T có ma tuý sử dụng không thi Lò Văn T nói là có Hồng phiến, Lƣờng Văn T rủ Lò Văn T đi tim

̀

̀ phòng trọ để cùng nhau sử dụng ma tuý , Lò Văn T đồng ý rồi điều khiển xe mô tô chở Lƣờng Văn T đến thuê phòng trọ của anh Nguyễn Quang T ở Tổ dân phố 11, thị trấn S, tại đây Lò Văn T nhă ̣t vỏ chai nhƣ̣a và vỏ bút bi làm tẩu hút , sau đó lấy gói ma tuý ra đă ̣t ở đê ̣m ngủ rồi lấy 01 viên Hồng phiến ra sƣ̉ du ̣ng cùng Lƣờng Văn T bằng hinh thƣ́ c hút qua tẩu tƣ̣ chế , khi hai ngƣờ i đang sƣ̉ du ̣ng thi

̀

̀ bị Tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối kết hợp với Ban công an thị trấn Sông Ma phã

́t hiê ̣n bắt quả tang , thu giƣ̃ toàn bộ chứng. Lò Văn T cũng khai nhận bị cáo mua số ma túy để bản thân sử dụng, ngoài ra không có mục đích nào khác.

Ngoài ra Lò Văn T còn khai nhận: Khoảng 10h ngày 02/4/2017 T đi xe mô tô BKS 26K4-1958 tƣ̀ nhà ra thăm chi ̣ gái là Lò Thị Q ở bản X, xã N, huyện S, khi đi đến bản Trại Giống , xã Nà Nghịu thì T thấy đau đầu nên tim hiê ̣u thuốc

̀ để mua cao dán , khi đến gần cƣ̉ a hiê ̣u thuốc của ông Trần Văn A thì nhìn thấy Trần Văn Q (Con trai ông A) đi làm về dƣ̣ng xe mô tô Yamaha Exciter BKS 26B1-298.89 trƣớ c cƣ̉ a quá n mở cốp xe cất tiền vào trong vi rồi để vào trong

́ cốp xe, sau đó Q đi vào trong nhà nhƣng không rút chia khoá . Thấy vâ ̣y, T nảy

̀ sinh ý đi ̣nh lấy trô ̣m vi tiền, quan sát thấy không có ai T xuống xe đi bô ̣ đến chỗ

́ xe mô tô của Quỳnh mở cố p lấy chiếc vi, đồng thờ i rút chìa khoá xe ném đi. Sau

́

đó T điều khiển xe đến cầu cƣ́ ng Sông Ma mỡ ̉ vi ra kiểm tra thi thấy bên trong

́

̀ ví có 1.600.000VNĐ, 01 tờ tiền giấy cotton mênh giá 10.000VNĐ, 01 tờ tiền giấy cotton mê ̣nh giá 100VNĐ, 01 thẻ ATM ngân hàng ABBANK , 01 thẻ ATM ngân hàng AGRIBANK , 01 giấy phép lái xe mô tô , 01 giấy đăng ký xe mô tô , 01 giấy chƣ́ ng minh nhân dân đều mang tên Trần Văn Q , T đã lấy toàn bô ̣ tiền và giấy tờ có trong ví và ném chiếc ví xuống Sông Mã rồi đi về , đến nhà T cắt ảnh 3x4 của mình thay vào ảnh của Q trong giấy chƣ́ ng minh nhân dân và giấy phép lái xe nhằm mục đích s ử dụng, số tiền 1.600.000VNĐ T đa mua ma tuỹ

́ và chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 06 tháng 5 năm 2017 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã đã ra Quyết định trƣng cầu định giá tài sản. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 194/KL ngày 11/5/2017 của Hội đồng đi ̣nh giá tài sản trong TTHS huyện Sông Mã kết luâ ̣n : 01 chiếc vi da nhan hiê ̣̃

u cá sấu màu đen đa qua sƣ̃

̉

́

dụng trị giá 300.000VNĐ ( ba trăm nghìn đồng ).

Do có hành vi nêu trên tại Cáo trạng số 83/KSĐT - MT ngày 27 tháng 7 năm 2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trƣớc Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Lò Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 194 BLHS và tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS.

Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 194; khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 50 BLHS năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội, Nghị quyết số 01/NQ - HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Công văn số 276/TANDTC- PC ngày 13/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao; khoản 3 Điều 7 BLHS, điểm n khoản 2 Điều 249 BLHS năm 2015 xử phạt từ 06 - 07 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, 09 - 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung ; Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; Áp dụng Điều 589 BLDS, Điều 42 BLHS buộc bị cáo bồi thƣờng từ 02 - 03 triệu đồng cho ngƣời bị hại; Áp dụng Điều 41 BLHS, Điều 76 BLTTHS trả lại cho ông Lò Văn N chiếc xe máy, trả lại cho Lƣờng Văn T chiếc điện thoại, tịch thu tiêu hủy tẩu tự chế, dao dọc giấy và 02 tờ tiền cotton không còn giá trị lƣu hành.

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY:

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai nhƣ đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện - Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện tội phạm; phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang lập hồi 22h ngày 17 tháng 4 năm 2017; vật chứng bị thu giữ là 05 viên nén màu hồng nghi là Hồng phiến , mô ̣t số cu ̣ c bô ̣t màu trắng nghi là Hero in, 01 tẩu tƣ̣ chế bằng chai nhƣ̣a màu trắng, 01 xe mô tô và 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng ; phù hợp với kết luận giám định số 446/KLMT ngày 21/4/2017 của Phòng ky thuâ ̣̃

t hinh sƣ̣ Công an tinh Sơn La :̉

̀ Mẫu gƣ̉ i giám đi ̣nh ký hiệu T2 là chất ma tuý, loại chất Heroin, trọng lƣợng mẫu gƣ̉ i giám đi ̣nh là 0,19 gam. Mẫu gƣ̉ i giám đi ̣nh ký hiê ̣u T 1 là chất ma tuý , loại chất Methamphetamin, trọng lƣợng mẫu gửi giám định là 0,48 gam.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của ngƣời bị hại Trần Văn Q về việc vào khoảng 13h ngày 02/4/2017 anh có để chiếc xe máy Yamaha Exciter BKS 26B1-298.89 trƣớc cửa nhà, đến khoảng 13h30 khi đi làm anh đã phát hiện toàn bộ tài sản để ở trong chiếc ví mà anh để trong cốp xe đã bị mất, tài sản có trong chiếc ví gồm 1.600.000VNĐ, 01 tờ tiền giấy cotton mệnh giá 10.000VNĐ, 01 tờ tiền giấy cotton mê ̣nh giá 100VNĐ, 01 thẻ ATM ngân hàng ABBANK, 01 thẻ ATM ngân hàng AGRIBANK, 01 giấy phép lái xe mô tô, 01 giấy đăng ký xe mô tô, 01 giấy chƣ́ ng minh nhân dân . Phù hợp với kết luận đi ̣nh giá tài sản số 194/KL ngày 11/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện Sông Mã: 01 chiếc vi da nhan hiê ̣̃

u cá sấu màu đen đa quã

sƣ̉ du ̣ng tri ̣ giá

́ 300.000VNĐ ( ba trăm nghìn đồng ). Lời khai của bị cáo cũng phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Đối với hành vi chiếm đoạt tài sản: Ngày 02 tháng 4 năm 2017 bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của anh Trần Văn Q có tổng giá trị là 1.900.000VNĐ ( tiền mặt là 1.600.000đ, giá trị chiếc ví là 300.000đ ); mặc dù giá trị tài sản bị cáo trộm cắp dƣới hai triệu đồng, tuy nhiên trƣớc đó ngày 19/9/2013 bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp xử phạt 30 tháng tù về tội Trô ̣m cắp tài sản , chƣa đƣợc xóa án tích, nhƣ vậy tiền án năm 2013 là yếu tố định tội đối với bị cáo.

Đối với hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy: Ngày 17 tháng 4 năm 2017 sau khi mua đƣợc 06 viên Hồng phiến và một lƣợng Heroin tại bản Khua Họ, xã Huổi Một, huyện Sông Mã bị cáo mang ra thị trấn Sông Mã rồi cùng Lƣờng Văn T sử dụng 01 viên Hồng phiến. Trƣớc đó ngày 08/6/2011 bị Toà án nhân dân huyê ̣n Sốp Cô ̣p xƣ̉ pha ̣t 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và tội trốn khỏi nơi giam giữ, ngày 19/9/2013 bị Toà án nhân dân huyện Sốp Cô ̣p xƣ̉ pha ̣t 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản , nhƣ vậy các tiền án năm 2011 và năm 2013 là yếu tố định khung hình phạt đối với bị cáo.

Hành vi trộm cắp tài sản của ngƣời khác có giá trị dƣới hai triệu đồng nhƣng đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chƣa đƣợc xóa án tích của bị cáo đã phạm tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS.

Hành vi tàng trữ 0,19 gam Heroin và 0,48 gam Methamphetamin nhằm mục đích để sử dụng của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tô ̣i phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điểm p khoản 2 Điều 194 BLHS, thuộc trƣờng hợp tái phạm nguy hiểm.

Hội đồng xét xử thống nhất nhận định, đánh giá nhƣ sau:

Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, bị cáo phạm tội thuộc trƣờng hợp tái phạm nguy hiểm, bị cáo nhận thức đƣợc việc tàng trữ chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhƣng đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nƣớc, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hƣởng đến trật tự trị an ở địa phƣơng, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội. Đối với hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đã gây hoang mang trong dƣ luận, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng, bị cáo nhận thức đƣợc tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình là bất khả xâm phạm và đƣợc Pháp luật bảo vệ nhƣng vì mục đích tƣ lợi cá nhân đã bất chấp pháp luật, cố tình thực hiện tội phạm.

Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải với việc làm của bản thân - áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Thời điểm bị cáo phạm tội Bộ luật hình sự năm 2015 chƣa có hiệu lực pháp luật nhƣng tại điểm b, Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội khóa 14 quy định : “ Các điều khoản của Bộ luật hình sự 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho ngƣời phạm tội thì đƣợc áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trƣớc 0 giờ 00 ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với ngƣời đang đƣợc xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích ”.

Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “ Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trƣớc thời hạn có điều kiện, xóa án tích và quy định khác có lợi cho ngƣời phạm tội thì đƣợc áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội đã thực hiện trƣớc khi điều luật có hiệu lực thi hành ”.

Căn cứ các quy định nêu trên so sánh quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 thấy:

Khoản 2 Điều 249 BLHS năm 2015 quy định về trƣờng hợp phạm tội thuộc trƣờng hợp tái phạm nguy hiểm thì có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm;

Khoản 2 Điều 194 BLHS năm 1999 quy định về trƣờng hợp phạm tội thuộc trƣờng hợp tái phạm nguy hiểm thì có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm;

Nhƣ vậy khoản 2 Điều 249 BLHS năm 2015 quy định có lợi hơn cho ngƣời phạm tội - Cần xem xét áp dụng quy định tại Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7, khoản 2 Điều 249 BLHS năm 2015 để quyết định hình phạt theo hƣớng có lợi cho bị cáo; Tuy nhiên cũng cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, để có một mức án tƣơng xứng với hành vi phạm tội nhằm trừng phạt, cải tạo, giáo dục bị cáo thành ngƣời có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh tội phạm nói chung và phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phƣơng nói riêng.

Về hình phạt bổ sung - Phạt tiền: Cơ quan điều tra đã làm rõ bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên cần miễn cho bị cáo.

Về thiệt hại và trách nhiệm bồi thƣờng: Tài sản bị cáo đã chiếm đoạt của anh Trần Văn Q gồm 1.600.000VNĐ, 01 tờ tiền giấy cotton mênh giá 10.000VNĐ, 01 tờ tiền giấy cotton mê ̣nh giá 100VNĐ, 01 thẻ ATM ngân hàng ABBANK, 01 thẻ ATM ngân hàng AGRIBANK , 01 giấy phép lái xe mô tô , 01 giấy đăng ký xe mô tô , 01 giấy chƣ́ ng minh nhân dân và 01 chiếc ví có giá trị 300.000đ. Về số tiền bị cáo đã sử dụng hết, chiếc ví bị cáo đã vứt đi không thu hồi lại đƣợc, còn các tài sản khác đã thu hồi lại đƣợc, tuy nhiên 01 giấy phép lái xe mô tô, 01 giấy chƣ́ ng minh nhân dân bị cáo đã bóc ảnh nên không còn giá trị sử dụng. Tại phiên tòa ngƣời bị hại Trần Văn Q đề nghị buộc bị cáo phải bồi thƣờng cho anh số tiền 3.300.000đ, bao gồm khoản tiền 1.600.000VNĐ, chiếc ví giá trị 300.000đ và tiền đi làm lại giấy chứng minh thƣ nhân dân và giấy phép lái xe. Xét thấy đề nghị của ngƣời bị hại là phù hợp và có căn cứ, nên cần buộc bị cáo phải bồi thƣờng.

Về vật chứng vụ án: Đối với chiếc xe máy quá trình điều tra đã xác định đƣợc chiếc xe thuộc sở hữu của ông Lò Văn N ( bố bị cáo ), khi bị cáo dùng làm phƣơng tiện đi mua ma túy ông N không biết, cần trả lại cho ông N; đối với chiếc điện thoại tạm giữ của Lƣờng Văn T do không liên quan đến vụ án cần trả lại cho Lƣờng Văn T; Đối với 01 tẩu tự chế, 01 lƣỡi dao dọc giấy, 01 dũa cƣa đã hoen rỉ cần tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 tờ tiền cotton mệnh giá 10.000đ, 01 tờ tiền cotton mệnh giá 100đ, là tiền do Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam phát hành mặc dù hiện nay không con giá trị lƣu hành, tuy nhiên ngƣời bị hại Trần Văn Q xin giữ lại để làm kỷ niệm, cần xem xét trả lại cho anh Q ( Ngoài ra vật chứng đƣợc Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã chuyển cùng hồ sơ vụ án gồm 01 thẻ ATM ng ân hàng ABBANK , 01 thẻ ATM ngân hàng AGRIBANK , 01 giấy phép lái xe mô tô , 01 giấy đăng ký xe mô tô , 01 giấy chƣ́ ng minh nhân dân , trong đó giấy chứng minh thƣ nhân dân và giấy phép lái xe đã bị bị cáo bóc ảnh và dán ảnh của bị cáo vào đã đƣợc Tòa án nhân dân huyện trả lại cho ngƣời bị hại ).

Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với Lƣờng Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý cùng Lò Văn T , ngày 19/4/2017 Toà án nhân dân huyê ̣n Sông Ma đã ra quyết đi ̣̃

nh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cở cai nghiê ̣n bắt buô ̣c vớ i thờ i ha ̣n 22 tháng là phù hợp với quy định của pháp luâ ̣t. Đối với ngƣờ i đàn ông dân tô ̣c Mông không quen biế t ta ̣i khu vƣ̣c bản Khua Ho ̣, xã Huổi Mô ̣t mà bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 17/4/2017 do bị cáo không biết tên , đi ̣a chi cu ̣̉ thể , ngoài lời khai của bị cáo không có chứng cứ khác, nên Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã không có căn cứ để điều tra, xác minh, mở rô ̣ng vu ̣ án. Đối với chủ nhà trọ anh Nguyễn Quang T, khi cho Lò Văn T và Lƣờng Văn T thuê phòng tro ̣ không biết mu ̣c đich là để vào sƣ̉ du ̣ng ma tuý nên không đă ̣t vấn đề xƣ̉ lý là đảm bảo. ́

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1- Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7, điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt Lò Văn T 06 ( sáu ) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt Lò Văn T 09 ( chín ) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản;

Áp dụng Điều 50 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lò Văn T phải chấp hành hình phạt chung là 06 năm 09 tháng ( sáu năm chín tháng ) tù - Thời hạn thụ hình tính từ ngày bị giữ, giam ( ngày 17/4/2017 ).

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586 Bộ luật dân sự:

Buộc bị cáo Lò Văn T bồi thƣờng cho ngƣời bị hại Trần Văn Q, nơi ĐKHKTT và nơi ở : Bản T, xã N, huyện S, Sơn La số tiền 3.300.000VNĐ ( ba triệu ba trăm ngàn đồng ) trong đó: 1.600.000VNĐ là số tiền bị cáo đã trộm cắp, 300.000VNĐ là giá trị chiếc ví, 1.400.000VNĐ là khoản tiền chi phí cho việc làm lại chứng minh thƣ nhân dân và giấy phép lái xe.

3- Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự; điểm a,b,d khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 ( một ) tẩu tự chế làm bằng lọ la vi, 01( một ) lƣỡi dao dọc giấy, 01 ( một ) dũa cƣa sắt hình tròn đã cũ, hoen rỉ.

- Trả lại cho ngƣời bị hại Trần Văn Q, nơi ĐKHKTT và nơi ở: bản, xã N, huyện S, Sơn La: 01( một ) tờ tiền giấy đã cũ mệnh giá 10.000đồng, tiền VNĐ; 01 ( một ) tờ tiền giấy đã cũ mệnh giá 100đồng, tiền VNĐ; không còn lƣu hành trên thị trƣờng.

- Trả lại cho ngƣời có quyền lợi liên quan Lƣờng Văn T, nơi ĐKHKTT và nơi ở : bản M, xã N, huyện S, Sơn La: 01( một ) điện thoại di động hiệu VIVO, số IMEL1 860907035634471, số IMEL2 860907035634463.

- Trả lại cho ngƣời có quyền lợi liên quan Lò Văn N, nơi ĐKHKTT và nơi ở : bản M, xã M, huyện Số, Sơn La: 01 ( một ) chiếc xe máy hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 26K4 – 1958, số khung 043462, số máy 043467.

( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/8/2017 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã ).

4- Về án phí: Áp dụng Điều 99 BLTTHS; Các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ ( Hai trăm ngàn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ ( ba trăm ngàn đồng ) án phí dân sự. Tổng cộng là 500.000đ ( năm trăm ngàn đồng )

Bị cáo, ngƣời bị hại Trần Văn Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 21/9/2017; ngƣời có quyền lợi liên quan Lò Văn N, Lƣờng Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản sao bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết ./.

Cỡ chữ