vanban.org

Bản án 1429/2022/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc bà Trầm Thị Tuyết M đại diện Hộ kinh doanh MP có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Cổ phần Viettronics TB tổng cộng số tiền là 10.340.000 (mười triệu ba trăm bốn mươi ngàn) đồng, trong đó nợ gốc là 8.000.000 (tám triệu) đồng, nợ lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán là 2.340.000 (hai triệu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "KDTM"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? Điều 3 Luật thương mại; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 1429/2022/KDTM - ST
Ngày: 29/7/2022
V/v: Tranh chấp hợp đồng mua bán
hàng hóa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thảo Trân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hồ Thị Lang

2. Bà Nguyễn Thị Bính Thân

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Tường Phúc – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 30 tháng 6 năm 2022 và ngày 29 tháng 7 năm 2022 tại Phòng xử án, trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 483/2021/TLST- KDTM ngày 02 tháng 4 năm 2021 về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2022/QĐXXST – KDTM ngày 10 tháng 5 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 136/2022/QĐST – KDTM ngày 10 tháng 6 năm 2022, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 256/2022/QĐXXST – KDTM ngày 23 tháng 6 năm 2022, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 263/2022/QĐXXST – KDTM ngày 29 tháng 6 năm 2022 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 271/2022/QĐST – KDTM ngày 30 tháng 6 năm 2022, giữa:

Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Viettronics TB

Địa chỉ trụ sở chính: 248A Nơ Trang Long, Phường 12, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Văn Viết T, chức danh: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền:

Ông Võ Sang Bảnh

Địa chỉ: 248A Nơ Trang Long, Phường 12, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Văn bản ủy quyền số 04/2021/GUQ – VTB ngày 19/02/2021)

Ông Võ Văn M

Địa chỉ: 59/25/15 Đỗ Thúc Tịnh, Phường 12, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Văn bản ủy quyền số 31/2022/GUQ – VTB ngày 28/7/2022)

Bị đơn: Bà Trầm Thị Tuyết M đại diện Hộ Kinh Doanh MP

Địa điểm kinh doanh: 132 Ấp Thị Tứ, thị trấn Phong Điền, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

Nơi cư trú: Ấp Thị Tứ, thị trấn Phong Điền, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nguyên đơn Công ty Cổ phần Viettronics TB thì ngày 25/9/2019, Công ty cổ phần Viettronics TB và Hộ kinh doanh MP đã ký Hợp đồng nguyên tắc về mua bán số 60/2019/HĐ – VTB. Quá trình thực hiện hợp đồng, Hộ kinh doanh MP Phát cử bà Đỗ Thanh Như là nhân viên của hộ đại diện làm việc.

Ngày 30/9/2019 Công ty đã xuất đơn hàng gồm 44 quạt máy với tổng số tiền 12.740.005 đồng, thời hạn thanh toán là 30 ngày kể từ ngày xuất hóa đơn. Tuy nhiên, Hộ kinh doanh MP không thanh toán. Ngày 03/01/2020, hai bên đã xác nhận công nợ, cụ thể: Tính đến ngày 31/12/2019, Hộ kinh doanh MP còn nợ Công ty cổ phần Viettronics TB số tiền 12.740.005 đồng. Ngày 12/6/2020, Công ty cổ phần Viettronics TB có buổi làm việc với Hộ kinh doanh MP và Hộ kinh doanh MP xác định đã trả tiền nhiều lần cho nhân viên và chỉ còn nợ số tiền 8.000.000 đồng và hiện tại có một số hàng hóa bị hư hỏng nên đề nghị Công ty cổ phần Viettronics TB đổi trả thì sẽ trả số tiền 8.000.000 đồng. Sau đó, Công ty cổ phần Viettronics TB đã phản hồi nếu sản phẩm hư hỏng sẽ thực hiện bảo hành theo quy định do hàng xuất hóa đơn đã lâu nhưng Hộ kinh doanh MP Phát không đưa ra được sản phẩm hư hỏng như đã nêu và không chấp nhận phương án bảo hành của Công ty.

Ngày 13/7/2020, Hộ kinh doanh MP có Văn bản xác nhận số công nợ có nội dung còn nợ Công ty cổ phần Viettronics TB số tiền là 8.000.000 đồng. Ngày 14/12/2020, Công ty cổ phần Viettronics TB có Văn bản xác nhận và Thông báo cho Hộ kinh doanh MP Phát (sau khi kiểm tra, đối chiếu) số tiền còn nợ là 8.000.005 đồng và yêu cầu thanh toán trước ngày 20/12/2020 nếu không thanh toán Công ty cổ phần Viettronics TB sẽ tính lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Nhưng đến nay, Hộ kinh doanh MP không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình Công ty cổ phần Viettronics TB yêu cầu Tòa án xét xử buộc Hộ kinh doanh MP Phát phải thanh toán số tiền còn nợ là 8.000.005 đồng và tiền lãi (tạm tính) từ ngày 30/10/2019 đến ngày 12/4/2022 là 3.580.002 đồng (lãi suất là 0.05% ngày được hai bên thỏa thuận tại Điều 8 của Hợp đồng).

* Nguyên đơn giao nộp các chứng cứ sau:

- Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty cổ phần Viettronics TB (bản sao);

- Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh MP (bản photo);

- Hợp đồng nguyên tắc về mua bán số 60/2019/HĐ – VTB ngày 25/9/2019 (bản photo);

- Giấy ủy quyền (Bản chính);

- CMND của ông Võ Sang Bảnh, ông Vũ Dương Ngọc Duy (bản sao);

- Biên bản xác nhận số dư công nợ ngày 03/02/2020, 04/6/2020 (bản photo);

- Biên bản làm việc ngày 12/6/2020 giữa Công ty cổ phần Viettronics TB với Hộ Kinh Doanh MP (bản photo);

- Hóa đơn giá trị gia tăng ngày 30/9/2019 (bản photo);

- Lệnh giao hàng (bản photo);

- Biên nhận hàng hóa (bản photo);

Bị đơn – Bà Trầm Thị Tuyết M đại diện Hộ Kinh Doanh M: Vắng mặt. Từ khi thụ lý hồ sơ vụ án, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với bị đơn đến Tòa để giải quyết vụ án nhưng bị đơn đều vắng mặt. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định của pháp luật, nhưng bị đơn không có ý kiến phản hồi, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, không có yêu cầu phản tố.

* Các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập:

- Văn bản trả lời xác minh của UBND huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ đối với Hộ kinh doanh MP đối với yêu cầu của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, có nội dung: Hiện nay, Hộ kinh doanh MP vẫn hoạt động tại địa chỉ số 132 ấp Thị Tứ, thị trấn Phong Điền, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. Đại diện hộ kinh doanh là bà Trầm Thị Tuyết M, sinh năm 1963, nơi cư trú tại ấp Thị Tứ, thị trấn Phong Điền, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

- Văn bản trả lời xác minh của Công an thị trấn Phong Điền, thành phố Cần Thơ về nơi cư trú của người đại diện Hộ kinh doanh MP bà Trầm Thị Tuyết M đối với yêu cầu của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, có nội dung: Bà Trầm Thị Tuyết M, sinh năm 1963 hiện đang đăng ký thường trú tại 220 ấp Thị Tứ thị trấn Phong Điền, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

Tại phiên tòa hôm nay:

Chủ tọa công bố có sự thay đổi Hội đồng xét xử là Hội thẩm nhân dân là bà Bùi Thị Hòa Bình được thay thế bởi bà Hồ Thị Lang. Thư ký ghi biên bản phiên tòa là bà Ngô Uyên Phương được thay bằng thư ký Đỗ Tường Phúc. Lý do bà Bình, bà Phương không thể trực tiếp tham gia phiên tòa do bận công tác.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty Cổ phần Viettronics TB yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn Trầm Thị Tuyết M đại diện Hộ kinh doanh MP phải thanh toán số tiền còn nợ là 8.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 21/12/2020 đến ngày xét xử với lãi suất là 0.05% ngày được hai bên thỏa thuận tại Điều 8 của Hợp đồng trên số tiền chậm thanh toán là 8.000.000 đồng là 2.340.000 đồng làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn Trầm Thị Tuyết M đại diện Hộ kinh doanh MP đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt (Bị đơn không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hay vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên còn vi phạm về thời hạn xét xử.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn Trầm Thị Tuyết M đại diện Hộ kinh doanh MP thanh toán số tiền còn nợ là 8.000.00 đồng và tiền lãi tính từ ngày 21/12/2020 đến ngày xét xử 29/7/2022 là 2.340.000 đồng với lãi suất là 0.05% ngày theo hợp đồng, tổng cộng là 10.340.000 đồng làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Thẩm quyền của Tòa án: Công ty Cổ phần Viettronics TB có đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa đối với bà Trầm Thị Tuyết M đại diện Hộ kinh doanh MP. Đây là loại vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 10 của Hợp đồng nguyên tắc về mua bán hàng hóa số 60/2019/HĐ – VTN ngày 25/9/2019 được ký kết giữa Công ty Cổ phần Viettronics TB với bà Trầm Thị Tuyết M đại diện Hộ kinh doanh MP, có nội dung: Bất kỳ tranh chấp nào phát sinh liên quan đến việc thực hiện Hợp đồng này, trước hết sẽ được các bên giải quyết thông qua thương lượng hào giải. Trong trường hợp các bên không giải quyết được bằng thương lượng, tranh chấp sẽ được giải quyết tại Tòa án nhân dân bên A có trụ sở chính theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của nguyên đơn Công ty Cổ phần Viettronics TB do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp có trụ sở chính tại số 248A Nơ Trang Long, Phường 12, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần Viettronics TB cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa số 60/2019/HĐ – VTN ngày 25/9/2019 được ký kết giữa Công ty Cổ phần Viettronics TB với Hộ kinh doanh MP thì vụ án có quan hệ tranh chấp là tranh chấp về hợp đồng kinh tế được pháp luật quy định tại Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tư cách tham gia tố tụng:

Nguyên đơn là Công ty Cổ phần Viettronics TB ủy quyền hợp lệ cho ông Võ Sang Bảnh, ông Võ Văn M tham gia tố tụng, đúng quy định tại các Điều 138, 141 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 85, 86 Bộ luật tố Tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.

Bị đơn là bà Trầm Thị Tuyết M đại diện Hộ kinh doanh MP đã được Tòa án thực hiện việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng dân sự trong vụ án nhưng vẫn không đến Tòa để tham gia tố tụng, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hay vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có đơn yêu cầu phản tố. Nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung khởi kiện: Công ty Cổ phần Viettronics TB yêu cầu bị đơn bà Trầm Thị Tuyết M đại diện Hộ kinh doanh MP phải thanh toán số tiền còn nợ là 8.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 21/12/2020 đến ngày xét xử với lãi suất là 0.05% ngày được hai bên thỏa thuận tại Điều 8 của Hợp đồng trên số tiền chậm thanh toán là 8.000.000 đồng là 2.340.000 đồng làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về yêu cầu số tiền chưa thanh toán:

Xét thấy: Hợp đồng nguyên tắc về mua bán hàng hóa số 60/2019/HĐ – VTN ngày 25/9/2019 được ký kết giữa Công ty Cổ phần Viettronics TB với bà Trầm Thị Tuyết M đại diện Hộ kinh doanh MP được ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật.

Căn cứ vào Biên bản đối chiếu công nợ ngày 13/7/2020 của Hộ kinh doanh MP có nội dung: Hộ kinh doanh MP chỉ còn nợ Công ty Cổ phần Viettronics TB số tiền 8.000.000 đồng.

Như vậy có đủ cơ sở xác định bà Trầm Thị Tuyết M đại diện Hộ kinh doanh MP còn chưa thanh toán cho Công ty Cổ phần Viettronics TB số tiền 8.000.000 đồng đối với Hợp đồng nguyên tắc về mua bán hàng hóa số 60/2019/HĐ – VTN ngày 25/9/2019 được ký kết giữa Công ty Cổ phần Viettronics TB với Hộ kinh doanh MP.

Do bà Trầm Thị Tuyết M đại diện Hộ kinh doanh MP không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ sau khi Cổ phần Viettronics TB đã thực hiện xong phần nghĩa vụ của mình là vi phạm đến quyền và lợi lích hợp pháp của Công ty Cổ phần Viettronics TB. Đồng thời, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng dân sự để bà Trầm Thị Tuyết M đại diện Hộ Kinh doanh MP thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định Pháp luật Tố tụng dân sự nhưng bà Trầm Thị Tuyết M đại diện Hộ Kinh doanh MP không đến Tòa, không có văn bản trình bày ý kiến, yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Viettronics TB. Điều đó cho thấy bà Trầm Thị Tuyết M đại diện Hộ kinh doanh MP từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình được pháp luật quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nên Cổ phần Viettronics TB khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trầm Thị Tuyết M đại diện Hộ kinh doanh MP có trách nhiệm trả số tiền 8.000.000 đồng làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, nghĩ nên chấp nhận cũng như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về yêu cầu tính lãi: Công ty Cổ phần Viettronics TB yêu cầu bị đơn bà Trầm Thị Tuyết M đại diện Hộ kinh doanh MP phải thanh toán số tiền lãi tính từ ngày 21/12/2020 đến ngày xét xử với lãi suất là 0.05% ngày được hai bên thỏa thuận tại Điều 8 của Hợp đồng trên số tiền chậm thanh toán là 8.000.000 đồng là 2.340.000 đồng làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Xét: Bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu thanh toán tiền lãi đối với số tiền chậm thanh toán là có căn cứ quy định tại Điều 297 Luật thương mại năm 2005.

Về thời điểm tính lãi: Căn cứ vào Biên bản xác nhận số dư công nợ ngày 04/6/2020 do Công ty Cổ phần Viettronics TB gửi Hộ kinh doanh MP (dòng thứ 9 tính từ trên xuống) có nội dung: “Tính đến hết ngày 31/5/2020 quý Công ty còn nợ Công ty Cổ phần Viettronics TB số tiền 12.740.005 đồng”. Và được Hộ kinh doanh MP xác nhận còn nợ 8.000.000 đồng đề ngày 13/7/2020 thì có cơ sơ để xác định thời điểm tính lãi kể từ ngày 13/7/2020. Tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu thời hạn tính lãi từ ngày 21/12/2020 là có lợi cho bị đơn, nghĩ nên chấp nhận.

Về lãi suất: Theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại năm 2005 “ Trong trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chạm trả đó. Theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.

Do trong hợp đồng hai bên có thỏa thuận về mức lãi suất chậm trả tiền là 0.05%/ ngày, tương đương 18%/năm là phù hợp quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 không vượt quá lãi suất giới hạn là 20%/năm.

Như vậy số tiền lãi mà bà Trầm Thị Tuyết M đại diện Hộ kinh doanh MP phải thanh toán cho Công ty Cổ phần Viettronics TB do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán: 585 ngày x 8.000.000 đồng x 0.05%/ ngày = 2.340.000 đồng như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tổng cộng số tiền mà bà Trầm Thị Tuyết M đại diện Hộ kinh doanh MP phải thanh toán cho Công ty Cổ phần Viettronics TB là 10.340.000 đồng.

Về án phí kinh doanh thương mại: Hộ kinh doanh MP phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 63, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2016;

Căn cứ vào khoản 1 và khoản 8 Điều 3, Điều 24, Điều 50, Điều 55, Điều 292, Điều 306, Điều 319 của Luật thương mại 2005;

Căn cứ vào Luật Thi hành án Dân sự 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014);

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc bà Trầm Thị Tuyết M đại diện Hộ kinh doanh MP có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Cổ phần Viettronics TB tổng cộng số tiền là 10.340.000 (mười triệu ba trăm bốn mươi ngàn) đồng, trong đó nợ gốc là 8.000.000 (tám triệu) đồng, nợ lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán là 2.340.000 (hai triệu ba trăm bốn mươi ngàn) đồng làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật đối với Hợp đồng nguyên tắc về mua bán số 60/2019/HĐ – VTB ngày 25 tháng 9 năm 2019 được ký kết giữa Công ty Cổ phần Viettronics TB với Hộ kinh doanh MP.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành tương ứng với thời gian chưa thi hành theo mức lãi suất được theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ Luật dân sự năm 2015.

2. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bà Trầm Thị Tuyết M đại diện Hộ kinh doanh MP phải chịu án phí là 3.000.000 đồng. Công ty Cổ phần Viettronics TB được nhận lại số tiền 1.500.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0089458 ngày 30 tháng 3 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN

Cỡ chữ