vanban.org

Bản án 142/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hoàng V. Cho ông Lê Hoàng V được ly hôn với bà Trần Thị T. Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn, không có yêu cầu nên không xem xét. Về con chung: Ông V được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Trần Cẩm L, sinh ngày 23/9/2017. Ghi nh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Hoàng Vũ - Trần thị Thu"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Tố tụng Hành chính; Luật Tư pháp người
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 - VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 29-5-2026
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - VĨNH LONG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Lộc

- Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Chí Thành

2. Bà Phạm Thị Ngọc Diệu

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Phạm Văn Sỉ – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Tú – Kiểm sát viên. Ngày 29 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 160/2026/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2026 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 109/2026/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Hoàng V, sinh năm 1990. Địa chỉ: ấp P, xã T, tỉnh Vĩnh Long. (có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1996. Địa chỉ: số I, ấp A, xã T, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 19/01/2026, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ - nguyên đơn ông Lê Hoàng V trình bày:

Ông V và bà Trần Thị T có quen biết nhau và cưới nhau trên tinh thần tự nguyện có đăng ký kết hôn ở Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 02/3/2017 theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 18. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng và đã ly thân từ đó cho đến nay. Trong quá trình chung sống vợ chồng ông V và bà T có 01 con chung là Lê Trần Cẩm L, sinh ngày 23/9/2017 hiện cháu Cẩm L đang sống cùng với ông V từ trước đến bây giờ, được ông V chăm sóc nuôi dưỡng và cho đi học tại Trường tiểu học T1 tại xã T, tỉnh Vĩnh Long cháu L được chăm sóc phát triển toàn diện. Nay nhận thấy cuộc sống vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt, không thể hàn gắn được nên ông V yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông V yêu cầu được ly hôn với bà Trần Thị T. Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng vợ chồng khi ly hôn.

- Về con chung: Ông V yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung là Lê Trần Cẩm L, sinh ngày 23/9/2017 và không yêu cầu Trần Thị T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông V trình bày không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do ông Vũ B công việc không thể tham gia tố tụng tại Tòa án được nên yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.

Bị đơn bà Trần Thị T vắng mặt và cũng không có ý kiến gửi đến Tòa án nên không có ý kiến trình bày.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến giải quyết vụ án cho rằng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng; Tại phiên tòa Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, các Hội thẩm nhân dân, Thư ký đã thực hiện đầy đủ theo đúng thủ tục tố tụng; người tham gia tố tụng là nguyên đơn nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền của mình trong quá trình tố tụng, tuy nhiên bị đơn đã vi phạm không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, 58, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng Hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải đối thoại tại Toà án; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hoàng V. Ông V được ly hôn với bà Trần Thị T. Ông V không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên không xem xét giải quyết;

Về con chung: Giao con chung tên Lê Trần Cẩm L, sinh ngày 23/9/2017 cho ông V được trực tiếp nuôi dưỡng. Ông V không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản và nợ chung: Ông V trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng, ông Lê Hoàng V có nghĩa vụ nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003912 ngày 06/3/2026 là đủ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long. Hội đồng xét xử nhận định:

Thẩm quyền giải quyết: Ông Lê Hoàng V yêu cầu ly hôn với bà Trần Thị T, do bị đơn có địa chỉ thường trú tại số I ấp A, xã T, tỉnh Vĩnh Long nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long theo quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thụ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Lê Hoàng V có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Trần Thị T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn không có mặt theo yêu cầu của Tòa án. Do đó căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Ông V và bà T có quen biết nhau và cưới nhau trên tinh thần tự nguyện có đăng ký kết hôn ở Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 02/3/2017 theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 18. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng và đã ly thân từ đó cho đến nay. Đồng thời qua xác minh thì được biết ông V và bà T đã ly thân, không có ý định hàn gắn đoàn tụ lại với nhau. Từ khi mâu thuẫn, gia đình hai bên đã nhiều lần tổ chức hòa giải hàn gắn cho hai vợ chồng nhưng đều không thành như vậy đã đủ cơ sở xác định các bên đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng theo pháp luật về hôn nhân và gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng bế tắc trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở phù hợp tại các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, cho ông Lê Hoàng V được ly hôn với bà Trần Thị T. Ghi nhận ý kiến của ông V không yêu cầu nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.

Về con chung: xét thấy con chung là Lê Trần Cẩm L, sinh ngày 23/9/2017 (tại biên bản lấy ý kiến ngày 02/4/2026 thì con chung có nguyện vọng được sống chung với ông V) hiện nay đang sống chung ổn định với ông V được ông V cho đi học và phát triển toàn diện; Bà T cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu được nuôi con chung của ông V. Hội đồng xét xử quyết định giao con chung là Lê Trần Cẩm L, sinh ngày 23/9/2017 cho ông V được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận ý kiến của ông V không yêu cầu bà T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông V trình bày không có và không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Ông V phải nộp án phí hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 238, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 115 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng Hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải đối thoại tại Toà án;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hoàng V. Cho ông Lê Hoàng V được ly hôn với bà Trần Thị T. Về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn, không có yêu cầu nên không xem xét.

- Về con chung: Ông V được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Trần Cẩm L, sinh ngày 23/9/2017. Ghi nhận ông V không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Bà T có quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con theo qui định.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông V trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

- Về án phí hôn nhân và gia đình: Ông V phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0003912 ngày 06/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Như vậy án phí ông V đã nộp xong.

Đương sự vắng mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ