- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lưu Thị N Ly hôn Nguyễn Sỹ Q"
- Tòa quyết gì? * Áp dụng: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 238; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 142/2025/ST–HNGĐ Ngày 28 tháng 11 năm 2025 “V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lệ Hằng.
Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Tuyết Mai và bà Ngô Thị Huyền.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà – Thẩm tra viênTòa án nhân dân Khu vực 9 - Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Hoa – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2025/TLST–HNGĐ ngày 13/10/2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Lưu Thị N – Sinh năm: 1996
Nơi đăng ký HKTT: Thôn K, xã A, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
* Bị đơn: Anh Nguyễn Sỹ Q – Sinh năm: 1993
Nơi đăng ký HKTT: Thôn K, xã A, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lưu Thị N vắng mặt, tuy nhiên, theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Lưu Thị N trình bày:
Chị Lưu Thị N và anh Nguyễn Sỹ Q kết hôn với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn A, huyện A, tỉnh Nghệ An (nay là UBND xã A, tỉnh Nghệ An) trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc và sinh được 02 con. Đến năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau nên vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2021 đến nay. Hiện tại vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên chị N đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn cho vợ chồng.
Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Thị Tường V – Sinh ngày: 01/12/2016 và Nguyễn Sỹ Bảo L sinh ngày 22/01/2019. Từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay các con ở với anh Nguyễn Sỹ Q. Nay ly hôn chị N có nguyện vọng mỗi người nuôi 01 con, chị N có nguyện vọng nuôi con Nguyễn Thị Tường V, còn anh Q nuôi Nguyễn Sỹ Bảo L và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con. Nhưng nếu anh Q có nguyện vọng nuôi cả 02 con thì chị cũng đồng ý để anh Q nuôi cả 02 con và chị đồng ý cấp dưỡng nuôi mỗi con 1.000.000 đồng/01tháng/01 con (2.000.000 đồng/01tháng/02 con).
Về tài sản chung và nợ: Chị N không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Sỹ Q vắng mặt, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, anh Q trình bày:
Anh Nguyễn Sỹ Q và chị Lưu Thị N kết hôn năm 2016 và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn A, huyện A, tỉnh Nghệ An (Nay là UBND xã A, tỉnh Nghệ An). Việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, thỉnh thoảng có cãi nhau, hiện nay vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2021 đến nay. Nay chị N làm đơn xin ly hôn thì anh không đồng ý ly hôn vì theo tín ngưỡng bên đạo công giáo thì vợ chồng không được phép ly hôn nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Vợ chồng anh Q có 02 là Nguyễn Thị Tường V – Sinh ngày: 01/12/2016 và Nguyễn Sỹ Bảo L sinh ngày 22/01/2019. Nếu ly hôn thì anh Q có nguyện vọng nuôi cả 2 con và yêu cầu chị N cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi con 1.000.000 đồng, tổng là 2.000.000 đồng/ 02 con/01 tháng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Trong quá trình giải quyết vụ án cháu Nguyễn Thị Tường V và cháu Nguyễn Sỹ Bảo đều trình bày: Bố cháu là Nguyễn Sỹ Q, mẹ cháu là Lưu Thị N. Nay bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng ở với bố cháu là Nguyễn Sỹ Q.
- Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Nghệ An phát biểu ý kiến về vụ án và về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
Việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Nên Tòa án giải quyết vắng mặt các đương sự là có căn cứ. Như vậy, vụ án đã được thụ lý, điều tra và xét xử đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Lưu Thị N được ly hôn anh Nguyễn Sỹ Q; Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Tường V – Sinh ngày: 01/12/2016 và Nguyễn Sỹ Bảo L sinh ngày 22/01/2019 cho anh Nguyễn Sỹ Q trực tiếp chăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành; Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Lưu Thị N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi con 1.000.000 đồng/01 tháng/01 con (2.000.000 đồng/01 tháng/02 con); Về án phí: Chị Lưu Thị N phải chịu án phí ly hôn và án phí về cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, bị đơn cư trú tại xã A, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Nghệ An thụ lý và giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thị N và anh Nguyễn Sỹ Q kết hôn với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn A, huyện A, tỉnh Nghệ An (nay là UBND xã A, tỉnh Nghệ An). Hôn nhân tự nguyện, hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc và sinh được 02 người con chung, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm. Vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2021 đến nay. Hiện tại chị N không còn tình cảm với anh Q nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Q.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Q thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn và đã sống ly thân từ năm 2021, nay chị N yêu cầu ly hôn thì anh Q không đồng ý ly hôn vì anh Q theo đạo công giáo nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định của pháp luật.
Xét thấy mục đích của hôn nhân là vợ chồng cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc bền vững, cùng nhau chăm lo cuộc sống. Tuy nhiên, giữa chị N và anh Q có mâu thuẫn và đã sống ly thân nhiều năm, vợ chồng không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau, tình nghĩa vợ chồng không còn. Do đó, hôn nhân giữa chị N và anh Q lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng chị Lưu Thị N và anh Nguyễn Sỹ Q có 02 con chung Nguyễn Thị Tường V – Sinh ngày: 01/12/2016 và Nguyễn Sỹ Bảo L sinh ngày 22/01/2019. Nay ly hôn anh Q có nguyện vọng nuôi cả 2 con và yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi mỗi con 1.000.000 đồng/01 tháng/01 con (2.000.000 đồng/01 tháng/02 con) thì chị N cũng đồng ý để anh Nguyễn Sỹ Q nuôi cả 02 con và đồng ý cấp dưỡng nuôi mỗi con 1.000.000 đồng/01 tháng/01 con (2.000.000 đồng/01 tháng/02 con). Vì vậy, cần giao cháu Nguyễn Thị Tường V – Sinh ngày: 01/12/2016 và cháu Nguyễn Sỹ Bảo L sinh ngày 22/01/2019 cho anh Nguyễn Sỹ Q trực tiếp trôm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình và cũng phù hợp với ý kiến của các đương sự và nguyện vọng của các con.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi mỗi con 1.000.000 đồng/01 tháng/01 con (2.000.000 đồng/01 tháng/02 con), thi hành kể từ ngày 28/11/2025 đến khi 02 con đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Về tài sản chung và nợ: Chị Lưu Thị N và anh Nguyễn Sỹ Q không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Chị Lưu Thị N phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
* Áp dụng: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 238; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016.
* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lưu Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Sỹ Q.
- Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Tường V – Sinh ngày: 01/12/2016 và Nguyễn Sỹ Bảo L sinh ngày 22/01/2019 cho anh Nguyễn Sỹ Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Lưu Thị N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/01 tháng/01 con (2.000.000 đồng/01 tháng/02 con), thi hành kể từ ngày 28/11/2025 đến khi 02 con đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Chị Lưu Thị N phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn và 300.000 đồng án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con (Đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0001187 ngày 13/10/2025 tại phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9 - Nghệ An).
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND Khu vực 9 ; - Phòng THADS Khu vực 9; - UBND xã A; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Lệ Hằng |