vanban.org

Bản án 142/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng N được ly hôn với anh Đặng Tứ H.

2/ Về con chung: Giao cháu Đặng Ngọc S, sinh ngày 03/07/2017 cho chị N tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nôi con sau ly hôn: Do chị N chưa yêu cầu anh H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử chưa xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYỄN THỊ HỒNG N - ĐẶNG TỨ H"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng N được ly hôn với anh Đặng Tứ H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 16/05/2025
V/v tranh chấp “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Duy Mạnh.

Hội thẩm nhân dân:

+ Bà Huỳnh Thị Phượng.

+ Ông Nguyễn Văn Cường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hùng Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 243/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 03 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 99/2025/QĐST-HNGD ngày 21/04/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm: 1993 (Xin vắng mặt).

Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, An Giang.

Địa chỉ liên hệ: Số A7/19B ấp 1, xã T, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Anh Đặng Tứ H, sinh năm: 1993 (Có mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã P, huyện G, Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng N trình bày:

Chị Nguyễn Thị Hồng N và anh Đặng Tứ H tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện; các bên đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện G năm 2017. Quá trình chung sống hạnh phúc được một khoảng thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Hiện nay, chị N và anh H đã sống ly thân. Nay chị N nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng N yêu cầu ly hôn với anh Đặng Tứ H.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Đặng Ngọc S, sinh ngày 03/07/2017. Hiện nay, cháu S do chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.

Nay ly hôn, chị N yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu S.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N chưa yêu cầu anh H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu S.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

* Bị đơn Đặng Tứ H không cung cấp ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng N.

* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền, xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự, xác minh thu thập chứng cứ, thụ lý vụ án và tuân thủ đúng thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định tại các Điều 26 đến Điều 40; Điều 68; Điều 93 đến Điều 97; Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, thành phần Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng thực hiện theo đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 và 234 Bộ luật tố tụng dân sự và không có kiến nghị gì.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 55, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng N.

+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng N được ly hôn với anh Đặng Tứ H.

+ Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Đặng Ngọc S, sinh ngày 03/07/2017. Hiện nay, cháu S do chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.

Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu S cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.

Về cấp cấp dưỡng nuôi chung: Do chị N chưa yêu cầu anh H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu S nên đề nghị không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Do chị N trình bày không có và anh H không có ý kiến nên đề nghị không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng N phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

1.1/ Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp “Ly hôn”; bị đơn Đặng Tứ H cư trú tại huyện G, Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.2/ Về sự có mặt của đương sự: Bị đơn Đặng Tứ H được triệu tập 02 lần để tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt nên căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Đặng Tứ H và chị Nguyễn Thị Hồng N kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện G theo giấy chứng nhận kết hôn số 241 ngày 11/07/2017 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo lời trình bày của chị N: trong quá trình chung sống, giữa chị N và anh H thường xảy ra mẫu thuẫn do bất đồng quan điểm dẫn đến tình cảm rạn nứt; trong quá trình giải quyết vụ án, anh H cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của chị N; từ đó cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh H đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hòa thuận và bền vững không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng N và anh Đặng Tứ H.

Về con chung: Anh Đặng Tứ H và chị Nguyễn Thị Hồng N có 01 con chung tên Đặng Ngọc S, sinh ngày 03/07/2017; hiện nay, cháu S do chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.

Ly hôn, chị N yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu S.

Xét thấy, nếu thay đổi môi trường sống hiện tại của cháu S sẽ ảnh hưởng đến tâm lý và sự phát triển của cháu sau này; đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án, cháu S cũng có ý kiến muốn được sinh sống với chị N. Do đó, có cơ sở để Hội đồng xét xử giao cháu S cho chị N trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Do chị Nguyễn Thị Hồng N trình bày không có và anh Đặng Tứ H không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng N phải chịu án phí hôn nhân - gia đình sơ thẩm.

Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, là có căn cứ nên được Hội đồng xet xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 28; điểm b Khoản 2 Điều 227; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 1 Điều 228; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ các Điều 51, 53, 54, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

- Căn cứ Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng N được ly hôn với anh Đặng Tứ H.

2/ Về con chung: Giao cháu Đặng Ngọc S, sinh ngày 03/07/2017 cho chị N tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nôi con sau ly hôn: Do chị N chưa yêu cầu anh H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử chưa xem xét.

3/ Về tài sản chung, nợ chung: Do chị Nguyễn Thị Hồng N trình bày không có và anh Đặng Tứ H không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4/ Về án phí:

Chị Nguyễn Thị Hồng N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, trừ đi số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà chị N đã nộp theo biên lai thu số 0013660 ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông, chị N đã nộp xong án phí

5/ Về quyền kháng cáo:

- Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ