vanban.org

Bản án 142/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 19/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn S 01 (một) năm 07 (năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (28/02/2024). Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 142/2024/HS-ST
Ngày: 19 - 6 - 2024
ơ

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Thanh Hương

Bà Mùa Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 148/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn S

Tên gọi khác: Không

Sinh năm: 1963 tại Điện Biên.

Nơi cư trú: Tổ dân phố X, phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/10; Con ông: Hoàng Văn T (đã chết) và con bà: Vũ Thị H; Có vợ: Đào Thị D (đã ly hôn) và Vũ Thị T, có 02 con (con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 2012); Tiền án: 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy, tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 1998 bị Tòa án nhân dân thị xã Đ, tỉnh Lai Châu xử phạt 03 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Năm 1999 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 11 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Trong năm 2012 và 2014 03 lần bị Công an thành phố Đ, tỉnh Điện Biên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Năm 2015 03 lần bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc trái phép. Bị cáo đã chấp hành xong các bản án, Quyết định được coi là đương nhiên xóa án tích, chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Bị tạm giữ từ ngày 28/02/2024 sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ ngày 28/02/2024, tổ công tác Công an phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên làm nhiệm vụ tại khu vực Tổ dân phố A, phường T, phát hiện Hoàng Văn S đang đi xe đạp trên đường có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác yêu cầu dừng xe để kiểm tra, sau khi được vận động giải thích và yêu cầu nếu có cất giấu ma túy thì giao nộp. S khai nhận và tự giác lấy từ lỗ mũi bên trái của S ra 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng mảnh nilon trong suốt, bên trong có chứa các cục chất bột thể rắn, màu trắng ra giao nộp. Hoàng Văn S khai nhận đó là ma túy (Heroine), S mua về để sử dụng cho bản thân.

Quá trình điều tra Hoàng Văn S khai nhận: Số ma túy bị thu giữ S vừa mua của người đàn ông không quen biết ở Bản X, xã Th, huyện Đ với giá 150.000 đồng. Sau khi mua được ma túy bị cáo nhét vào lỗ mũi bên trái của mình rồi đạp xe đi về thì bị phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói bên như trên bên trong có chứa cục chất bột thể rắn, màu trắng, khối lượng 0,3 gam; 01 xe đạp 2 gióng, màu vàng nâu, xe cũ đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 479/KL-KTHS ngày 06/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Vật chứng khối lượng 0,3 gam là chất ma túy: Loại Heroin (Heroine). Hoàn lại đối tượng giám định có khối lượng 0,23 gam có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo.

Tại bản cáo trạng số 86/CT-VKSTPĐBP ngày 24/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đã truy tố bị cáo về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38/BLHS: Xử phạt bị cáo từ 20 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,23 gam Heroine hoàn lại sau giám định và 01 mảnh nilon không có giá trị sử dụng. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì về phần luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, bị cáo không bào chữa gì cho hành vi của mình.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để cho bị cáo có cơ hội sớm được trở về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma túy niêm phong lại vật chứng, Kết luận giám định...Do đó, có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 13 giờ ngày 28/02/2024 tại khu vực Tổ dân phố A, phường T, thành phố Đ, Hoàng Văn S đã có hành vi cất giấu trái phép 0,3 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.

Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đa truy tố̃ đối vớ i bị cáo là có căn cứ pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án số 54/2016/HSST ngày 09/6/2016 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án, đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa được xóa án tích nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52/BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.

Về nhân thân: Năm 1998 bị Tòa án nhân dân thị xã Đ, tỉnh Lai Châu xử phạt 03 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Năm 1999 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 11 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Trong năm 2012 và 2014 đã 03 lần bị Công an thành phố Đ, tỉnh Điện Biên xử phạt vi phạm hành chính với hình thức Cảnh cáo về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Trong năm 2015 đã 03 lần bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc trái phép (01 lần phạt Cảnh cáo, 02 lần phạt 200.000 đồng). Bị cáo đã chấp hành xong các bản án, Quyết định được coi là đương nhiên xóa án tích, chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Như vậy, bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần vi phạm pháp luật nhưng vẫn không tu dưỡng, rèn luyện, thay đổi bản thân. Do đó, cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù phù hợp, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục, cho bị cáo có thời gian cai nghiện để trở thành công dân tốt, có ý thức tuân thủ pháp luật.

Hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Tuy nhiên, hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người cao tuổi nên có thể cho bị cáo mức hình phạt thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS thì ngoài hình phạt chính người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng... Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người cao tuổi, người nghiện ma túy, lao động tự do không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có khả năng thi hành.

. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

Đối với 0,3 gam Heroine thu giữ của bị cáo, sau khi gửi toàn bộ giám định còn lại 0,23 gam vật chứng còn lại của vụ án, là vật Nhà nước cấm tàng trữ; 01 mảnh nilon trong suốt không có giá trị, không sử dụng được nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Đối với chiếc xe đạp thu giữ của bị cáo là tài sản của mẹ bị cáo. Mẹ bị cáo không biết việc bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội, cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chủ sở hữu, việc trả lại tài sản là đúng quy định nên HĐXX không đề cập giải quyết và không triệu tập bà Vũ Thị H tham gia tố tụng trong vụ án.

. Các vấn đề khác: Đối với đối tượng bị cáo khai đã bán ma túy, quá trình điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập nên hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo, người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đều hợp pháp.

. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, do bị cáo là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên HĐXX chấp nhận miễn án phí cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 331, 333, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn S 01 (một) năm 07 (năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (28/02/2024).

2. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 0,23 gam Heroine vật chứng còn lại sau giám định và 01 mảnh nilon trong suốt. (Đã niêm phong)

-

(Vật chứng đã được Công an thành phố Điện Biên Phủ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/5/ 2024).

3. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/6/2024). Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND TP ĐBP;

- VKSND tỉnh ĐB;

- Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP

(Đã ký)

- Cơ quan THAHS TP ĐBP;

- TAND tỉnh Điện Biên;

- Trại tạm giam;

Nguyễn Thị Minh Huệ

- Sở Tư pháp tỉnh ĐB;

- Chi cục THADS TP ĐBP;

- HS THAHS;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu VP.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––

TỈNH ĐIỆN BIÊN

–––––––––––––––

Số: 26/2024/TB-TA

Điện Biên Phủ, ngày 22 tháng 7 năm 2024

THÔNG BÁO

SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN

Căn cứ các điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số: 142/2024/HS-ST ngày 19/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên có lỗi chính tả, cần được sửa chữa, bổ sung như sau:

Về nội dung tại dòng thứ 18, 19 từ trên xuống trang 5 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn S 01 (một) năm 07 (năm) tháng tù.”

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn S 01 (một) năm 07 (bảy) tháng tù.”. Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Bị cáo;

- VKSND tỉnh Điện Biên;

- TAND tỉnh Điện Biên;

- Sở tư pháp tỉnh ĐB;

(Đã ký)

- VKSND thành phố ĐBP;

- Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP;

- Cơ quan THAHS TP ĐBP;

- BP HSNV CATP ĐBP;

- Hồ sơ THA hình sự;

Nguyễn Thị Minh Huệ

- Chi cục THADS TP ĐBP;

- Lưu: VP, hồ sơ vụ án; Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND TP ĐBP;

- VKSND tỉnh ĐB;

- Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP

- Cơ quan THAHS TP ĐBP;

- TAND tỉnh Điện Biên;

- Trại tạm giam;

- Sở Tư pháp tỉnh ĐB;

- Chi cục THADS TP ĐBP;

Nguyễn Thị Minh Huệ

- HS THAHS;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA XÉT XỬ

Nguyễn Thị Minh Huệ

1 .

Cỡ chữ