vanban.org

Bản án 142/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội Tuyên án 18/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Anh Q phạm tội "Cướp giật tài sản".

Điểm d, i Khoản 2 Điều 171; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Anh Q phạm tội Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Anh Q phạm tội "Cướp giật tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2024/HS - ST
Ngày: 18/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Trung Tuyến.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Xuân Phương.

Bà Huỳnh Thị Thanh Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Bích Phương - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 148/2024/TLST - HS ngày 03 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

TRẦN ANH Q- Sinh năm: 1991; Giới tính: Nam; ĐKHKTT và cư trú: Không xác định; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 0/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Quang H và bà Nguyễn Thị L.

Tiền án, tiền sự:

- Ngày 18/4/2014 bị Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử 28 tháng tù về tội Trộm Cắp tài sản (chưa xoá án tích).

- Ngày 28/9/2016 bị Toà án nhân dân quận Hoàng Mai xử 07 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý (chưa xoá án tích).

Nhân thân:

- Ngày 02/9/2005 bị Công an phường H, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản (đã hết thời hiệu).

- Ngày 25/5/2009 bị Toà án nhân dân huyện Q, thành phố Hà Nội xử 18 tháng tù về tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức.

- Ngày 21/10/2011 bị Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử 20 tháng tù về tôi Trộm cắp tài sản .

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 26/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Nguyễn Bích N, sinh năm 1989; HKTT: phường B, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội (Có đơn xin vắng mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 26/01/2024, Trần Anh Q gặp T là bạn quen biết ngoài xã hội (hiện không xác định được nhân thân, địa chỉ). T rủ Q đi đường xem ai có tài sản thì cướp giật, Q đồng ý. Q thấy T có cầm theo 01 vật bằng kim loại giống tuýp sắt dài khoảng 60cm, Q hỏi mang đi để làm gì, T trả lời là để chống trả lại nếu bị người dân bắt được. T giấu thanh kim loại vào phía bên trong áo khoác grap màu xanh và điều khiến xe máy Honda Wave màu đen không gắn BKS (xe máy của Q) chở Q di chuyển trên nhiều tuyến phố để xem ai có tài sản sơ hở thì lấy. Khi cả hai đi đến trước số nhà 135 đường T, phường Q, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội thì phát hiện chị Nguyễn Bích N (SN: 1989; nơi cư trú: phường T, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội) đang cầm điện thoại trên tay trái và ngồi trên xe Honda Vision, màu xanh (BKS: 29D2- 34869) đỗ dưới lòng đường. T hỏi Q "có giật được điện thoại của người này không", Q trả lời là "không", Q đổi vị trí điều khiển xe máy cho T, T ngồi sau xe sẽ thực hiện hành vi cướp giật điện thoại của chị N. T bảo Q điều khiền xe máy áp sát bên trái xe của chị N, khi đến gần T dùng tay phải giật mạnh chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, 256GB của chị N đang cầm bên tay trái. Q tăng ga phóng xe bỏ chạy theo hướng phố T - hướng cầu M, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Chị N điều khiền xe máy đuổi theo bám sát xe máy của Q và T, vừa đuổi vừa hô hoán "cướp, cướp". Khi đến đoạn 101 E4 đường K, phường Q, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Q và T bị ngã xe. Chị N cũng phóng xe đến nơi, thấy T rút từ trong người ra một vật bằng kim loại để chống trả và vứt lại điện thoại vừa cướp giật được của chị N sau đó bỏ chạy, Q bị cơ quan Công an phường Q, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội bắt giữ cùng chiếc điện thoại vừa cướp giật được của chị N. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với Q về hành vi cướp giật tài sản và thu giữ chiếc điện thoại di động, đưa Q về trụ sở Công an phường T, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội làm rõ.

Ngoài ra Cơ quan Công an còn thu giữ của Q: 01 chiếc xe máy Wave màu đen không gắn BKS.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Hai Bà Trưng đã có yêu cầu Định giá tài sản. Tại bản kết luận định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự quận Hai Bà Trưng số: 54/KL-HĐ ĐGTS ngày 15/04/2024 kết luận: 01 điện thoại đi động Iphone 14 Promax màu tím, số Imei 35371254798409 dung lượng 256Gb (máy cũ đã qua sử dụng) giá trị tài sản: 24.000.000 đồng (hai mươi tư triệu đồng).

Tại Cơ quan điều tra, Trần Anh Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và khai đây là lần đầu đi Cướp giật cùng T. Q quen T ngoài xã hội, không biết tên, tuối địa chỉ cụ thể của T.

Đối với chiếc xe máy Honda Wave màu đen không gắn BKS, Q khai chiếc xe mua trên mạng xã hội của người không quen biết với giá 3.800.000 đồng, khi mua do người bán xe cho Q nói xe bị mất giấy tờ, rơi chiếc BKS, do thấy rẻ nên Q mua, bản thân Q không biết nguồn gốc của chiếc xe máy trên. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội không đặt vấn đề xử lý đối với Q.

Cơ quan điều tra đã tiến hành giám định đối với chiếc xe máy, tại phòng PC09 - Công an Thành phố Hà Nội kết luận: số khung RLHJA3929MY408219; số máy: JA39E2433427 là nguyên thủy. Qua xác minh Biển kiểm soát theo tra cứu là 22S1- 416.42. Xác minh chủ sở hữu hợp pháp là của anh Diệp Quang S (SN: 2002; Trú tại: Tuyên Quang). Anh S khai anh bị mất chiếc xe vào ngày 29/01/2023, tại số 40 ngõ 67 phố P, phường T, quận N, thành phố Hà Nội. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Hai Bà Trưng đã chuyển chiếc xe máy trên cùng tài liệu liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N để giải quyết.

Đối với T là người tham gia thực hiện hành vi Cướp giật cùng với Q, hiện Q không biết tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại và các tài khoản mạng xã hội của T. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội ra Quyết định tách vụ án và tài liệu liên quan đến đối tượng T để tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.

Về dân sự: Ngày 25 tháng 5 năm 2024, Cơ quan điều tra đã trả cho chị Nguyễn Bích N chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, chị N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.

Tại bản cáo trạng số: 145/CT-VKSHBT-HS ngày 30/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội đã truy tố Trần Anh Q về tội Cướp giật tài sản quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Anh Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng mà Viện kiểm sát quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; Điều 38; Điều 46; Điều 47; Điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự 2015 để xử bị cáo Trần Anh Q từ 48 (Bốn mươi tám) tháng tù đến 54 (Năm mươi bốn) tháng tù.

- Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà hôm nay qua xét hỏi, bị cáo Trần Anh Q đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là thống nhất với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với báo cáo bắt giữ, vật chứng thu được của vụ án, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 19 giờ 50 phút ngày 26 tháng 01 năm 2024, tại trước số nhà 135 đường T, phường Q, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Trần Anh Q đã có hành vi điều khiển xe máy Honda Wave màu đen không gắn BKS Cướp giật chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, 256GB trị giá 24.000.000 đồng của chị Nguyễn Bích N thì bị Tổ công tác Công an phường Q, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng thu giữ.

Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Trần Anh Q về tội Cướp giật tài sản theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ chiếm đoạt tài sản của người bị hại mà còn có khả năng gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng cho người bị hại. Hành vi của bị cáo thể hiện sự táo tợn, liều lĩnh, coi thường pháp luật, ảnh hưởng tới an ninh trật tự và tài sản, sức khỏe của người bị hại, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo và cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và mang tính răn đe, phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Anh Q có 02 tiền án chưa được xoá án tích, phạm tội lần này là tái phạm nguy hiểm. Nhân thân bị cáo Trần Anh Q có 02 tiền án đã được xoá án tích và 01 tiền sự (đã hết thời hiệu). Thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, đã được cơ quan pháp luật giáo dục nhiều lần nhưng bị cáo không chịu cải tạo mình thành người có ích cho gia đình và cho xã hội mà vẫn tiếp tục phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra, bị cáo khai báo thành khẩn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục và cải tạo đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự; hình phạt phụ: Người bị hại là chị Nguyễn Bích N đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.

Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn phạt tiền cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Anh Q phạm tội "Cướp giật tài sản".

Căn cứ:

- Điểm d, i Khoản 2 Điều 171; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự.

- Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử phạt: Trần Anh Q 50 (Năm mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/01/2024.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ./.

Cỡ chữ