- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Ph - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lê Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 142/2024/HS-ST Ngày 05-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Văn Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
1) Ông Nguyễn Trường Sa;
2) Bà Nguyễn Thị Tây Nguyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoài Trọng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Nhật Văn - Kiểm sát viên.
Ngày 05/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 139/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141a/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Ph, sinh năm 1995; Tại Bình Thuận. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: khu phố 1, thị trấn Liên H, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê H và bà Nguyễn Thị G; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/6/2024 đến ngày 22/6/2024, tạm giam từ ngày 23/6/2024; hiện có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo cáo trạng:
Lê Ph, sinh ngày 14/3/1995 trú tại khu phố 1, thị trấn Liên H, huyện Tuy Phong là đối tượng nghiện ma túy. Vào chiều ngày 14/6/2024, Lê Ph có nhu cầu sử dụng ma túy nên đi đến khu vực nhà trọ Thành Trang thuộc thôn Lạc Trị, xã Phú L, huyện Tuy Phong để tìm người bán ma túy. Tại đây Ph tìm gặp một người thanh niên tên Bợm (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 200.000đồng ma túy, Bợm đồng ý. Ph đưa cho Bợm 200.000đồng và Bợm cầm tiền đi vào trong hẻm gần đó được khoảng 07 phút sau đó đi ra đưa cho Ph 01 gói nylon bên trong chứa ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, Ph cầm gói ma túy đá trên tay trái rồi đi bộ về lại thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong để tìm nơi sử dụng ma túy. Đến khoảng 17 giờ 00 phút ngày 14/6/2024, khi Ph đi bộ đến khu vực trước cổng trụ sở Ban chỉ huy Quân sự huyện Tuy Phong thuộc Quốc lộ 1A, khu phố 5, thị trấn Liên H, huyện Tuy Phong thì bị Công an thị trấn Liên H, huyện Tuy Phong tiến hành tuần tra phát hiện Ph có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Lê Ph đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong lòng bàn tay trái của Ph có 01 gói nylon không màu được hàn kín, kích thước khoảng 2.5 x 1.5cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, Ph khai nhận chất thu giữ nêu trên là ma túy đá của Ph cất giấu mục đích để sử dụng.
Vật chứng thu giữ của vụ án:
+ 01 gói nylon không màu được hàn kín, kích thước khoảng (2.5cm x 1.5cm).
Tại bản Kết luận giám định số 684/KL-KTHS ngày 22/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận mẫu vật thu giữ của Lê Ph như sau:
Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,1584 gam, là Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 143/CT-VKSTP-HS ngày 04/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố bị cáo Lê Ph về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: bị cáo Lê Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Lê Ph thừa nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố và việc truy tố bị cáo là đúng, không oan. Bị cáo không tranh luận, thống nhất ý kiến đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, cũng như không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Do vậy, có đầy đủ căn cứ xác định: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 14/6/2024 Công an thị trấn Liên H tuần tra khu vực trước cổng trụ sở Ban chỉ huy Quân sự huyện Tuy Phong thuộc khu phố 5, thị trấn Liên H phát hiện bắt quả tang Lê Ph có hành vi tàng trữ tàng trữ 01 gói nylon không màu, được hàn kín, kích thước khoảng (2.5cm x 1.5cm) bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng; là loại Methamphetamine có khối lượng 0,1584 gam (Tại Bản kết luận giám định ma túy số 684/KL-KTHS ngày 22/6/2024). Bị cáo tàng trữ ma túy nêu trên không có mục đích vận chuyển hay mua bán. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, gây hoang mang lo lắng cho gia đình và cộng đồng dân cư, ý thức được điều đó nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần buộc bị cáo phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo lao động nhằm cai nghiện và tu dưỡng bản thân và phòng ngừa tội phạm chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử lý vật chứng:
- 01 gói nylon không màu, đã cắt lấy mẫu cùng 0,1304 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 684, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận là vật cấm tàng trữ lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Quá trình điều tra do bị cáo không biết nhân thân, lai lịch của người thanh niên tên Bợm đã bán ma túy cho bị cáo nên Cơ quan điều tra Công an huyện Tuy Phong tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý tang vật chứng là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố: bị cáo Lê Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lê Ph 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 gói nylon không màu, đã cắt lấy mẫu cùng 0,1304 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 684, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.
(Tại biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra với Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong ngày 04/11/2024).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Lê Ph phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - VKSND huyện Tuy Phong; - Công an huyện Tuy Phong; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận; - Chi cục THA dân sự huyện Tuy Phong; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Văn Trung |