vanban.org

Bản án 142/2024/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xác định anh Lã Văn L, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn 2, xã Thiên Hương, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng là cha đẻ của cháu Lã Thị P do chị Mai Thị L sinh ngày 14/5/2014 tại Bệnh viện đa khoa huyện Thuỷ Nguyên theo Giấy chứng sinh số 63, quyển số 03 ngày 04/8/2021.

Về án phí: Anh Lã Văn L phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm. Quyền kháng cáo đối với bản án: Chị Mai Thị L và anh Lã Văn L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn H vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận đư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Mai Thị Là - Lã Văn Long"
  • Tòa quyết gì? Xác định anh Lã Văn L, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn 2, xã Thiên Hương, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng là cha đẻ của cháu Lã Thị P do chị Mai Thị L sinh ngày 14/5/2014 tại Bệnh viện đa khoa huyện Thuỷ Nguyên theo Giấy chứng sinh số 63, quyển số 03 ngày 04/8/2021.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦY NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2024/HNGĐ-ST
Ngày 12-8-2024
V/v xác định cha cho con chưa
thành niên

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Ngọc Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Nga

Ông Đỗ Văn Mạnh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngoan - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 146/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 tranh chấp về việc xác định cha cho con chưa thành niên theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Mai Thị L, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn 2, xã T, huyện T, thành phố H; có mặt.

- Bị đơn: Anh Lã Văn L, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn 2, xã Thiên Hương, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1979; nơi cư trú cuối cùng: Thôn 6, xã N, huyện , tỉnh T; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 3 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Mai Thị L (nguyên đơn) khai:

Chị Mai Thị L và anh Lã Văn L có quan hệ tình cảm và chung sống với nhau từ năm 2009. Đến ngày 14/5/2014, chị Là sinh 01 cháu gái dự định đặt tên Lã Thị P tại Bệnh viện đa khoa huyện Thuỷ Nguyên. Tuy nhiên, trong thời gian chung sống cùng anh Long, chị Là vẫn còn trong quan hệ hôn nhân với anh Nguyễn Văn H. Tuy nhiên, từ năm 2003 chị Là và anh Hạnh đã sống ly thân với nhau từ năm 2003, không còn tình cảm và trách nhiệm với nhau. Đến ngày 29/12/2023, Toà án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá đã giải quyết cho chị Là được ly hôn với anh Nguyễn Văn H theo Bản án số 86/2023/HNGĐ-ST. Ngày 20/02/2024, chị Là và anh Lã Văn L đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, thành phố H.

Chị Là và anh Long đều xác nhận cháu gái (tên dự sinh là Lã Thị P) do chị Là sinh ngày 14/5/2014 tại Bệnh viện đa khoa huyện Thuỷ Nguyên là con đẻ của anh Lã Văn L.

Nay để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con chung, chị Là đề nghị Toà án xác định anh Lã Văn L là cha đẻ của cháu Lã Thị P do chị Là sinh ngày 14/5/2014 tại Bệnh viện đa khoa huyện Thuỷ Nguyên theo Giấy chứng sinh số 63, quyển số 03 ngày 04/8/2021.

Quá trình giải quyết, bị đơn là anh Lã Văn L trình bày:

Anh Lã Văn L xác nhận anh và chị Mai Thị L có quan hệ tình cảm và chung sống với nhau từ năm 2009 đến nay. Đến ngày 14/5/2014, chị Mai Thị L có sinh 01 cháu gái dự định đặt tên Lã Thị P. Tuy nhiên, trong thời gian chung sống cùng anh, chị Mai Thị L vẫn còn trong quan hệ hôn nhân với anh Nguyễn Văn H mặc dù chị Là và anh Hạnh đã sống ly thân với nhau từ năm 2003, không còn tình cảm và trách nhiệm với nhau.

Đến ngày 29/12/2023, Toà án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá đã giải quyết cho chị Mai Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Văn H theo Bản án số 86/2023/HNGĐ-ST. Ngày 20/02/2024, anh Lã Văn L và chị Mai Thị L đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, thành phố H.

Anh Lã Văn L xác nhận cháu gái (tên dự sinh là Lã Thị P) do chị Mai Thị L sinh ngày 14/5/2014 tại Bệnh viện đa khoa huyện Thuỷ Nguyên là con đẻ của anh Lã Văn L nên anh cũng nhất trí với yêu cầu khởi kiện của chị Là và đề nghị Toà án xác nhận anh là cha đẻ của cháu Lã Thị P do chị Mai Thị L sinh ngày 14/5/2014 tại Bệnh viện đa khoa huyện Thuỷ Nguyên theo Giấy chứng sinh số 63, quyển số 03 ngày 04/8/2021.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn H cũng như đã nhiều lần triệu tập bị đơn đến Toà án để làm việc, nhưng anh Hạnh đều vắng mặt không có lý do và không giao nộp văn bản trình bày quan điểm, ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho Toà án.

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Thẩm phán đã xác định đúng về thẩm quyền giải quyết vụ án; về quan hệ pháp luật tranh chấp; về tư cách tham gia tố tụng; về việc thu thập chứng cứ; về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện Kiểm sát; việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự tại phiên tòa đã được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự

Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 88, Điều 101, Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xác định anh Lã Văn L, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn 2, xã Thiên Hương, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng là cha đẻ của cháu Lã Thị P do chị Mai Thị L sinh ngày 14/5/2014 tại Bệnh viện đa khoa huyện Thuỷ Nguyên theo Giấy chứng sinh số 63, quyển số 03 ngày 04/8/2021. Về nghĩa vụ nộp án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Lã Văn L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc xác định cha cho con chưa thành niên. Bị đơn là anh Lã Văn L có nơi cư trú tại thôn 2, xã Thiên Hương, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Người có quyền lợi nghĩa liên quan là anh Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng. Căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Hạnh.

Về xác định cha cho con: Chị Mai Thị L và anh Lã Văn L đều xác nhận Lã Văn L là cha đẻ của cháu Lã Thị P do chị Mai Thị L sinh ngày 14/5/2014 tại Bệnh viện đa khoa huyện Thuỷ Nguyên theo Giấy chứng sinh số 63, quyển số 03 ngày 04/8/2021. Tại Bản Kết luận giám định số 1658/KL-KTHS ngày 06 tháng 6 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an thành phố Hải Phòng đã kết luận: “Anh Lã Văn L và cháu Lã Thị P có quan hệ huyết thống trực hệ Bố - Con (Độ tin cậy P1˃99,99%)”. Vì vậy, xét yêu cầu xác định cha cho con chưa thành niên của chị Là là có căn cứ, cần chấp nhận theo quy định tại Điều 88, Điều 101, Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về án phí: Anh Lã Văn L phải nộp án phí xác định cha cho con sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Chị Mai Thị L, anh Lã Văn L và anh Nguyễn Văn H được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 88, 101, 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

1. Xác định anh Lã Văn L, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn 2, xã Thiên Hương, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng là cha đẻ của cháu Lã Thị P do chị Mai Thị L sinh ngày 14/5/2014 tại Bệnh viện đa khoa huyện Thuỷ Nguyên theo Giấy chứng sinh số 63, quyển số 03 ngày 04/8/2021.

2. Về án phí: Anh Lã Văn L phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo đối với bản án: Chị Mai Thị L và anh Lã Văn L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn H vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nga

Đỗ Văn Mạnh

Lương Ngọc Dũng

Cỡ chữ