- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Văn L Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 142/2023/HS-ST Ngày 24 - 5 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Hải Yến
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thanh Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thái Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Kiều Anh Mỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 94/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2023 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử vụ án số 82/TB-TA ngày 05/5/2023 đối với bị cáo:
Hồ Văn L, sinh ngày 30/12/1984 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Tổ 4, Tổ dân phố X, thị trấn A , huyện A, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Paco; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn L1 (đã chết) và bà Vũ Thị P; vợ: A Kiêng Thị H; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2018; tiền sự: Không; tiền án: Có 01 tiền án; Ngày 07/11/2019, bị Tòa án nhân dân huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 02 năm 11 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 11/2019/HS-ST ngày 07/11/2019).
Nhân thân:
- Ngày 18/6/1999 bị Tòa án nhân dân huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân; tổng hợp hình phạt 01 năm tù của bản án số 19/HSPT ngày 08/6/1999 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế là 01 năm 06 tháng tù (Bản án số 08/HSST);
- Ngày 29/6/2016, bị Tòa án nhân dân huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 12/2016/HSST);
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/01/2023 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn L: Bà Trần Thị Hồng M – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- Bị hại: Ông Lê T (Tên gọi khác: Ty), sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn L, xã H1, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Tôn Thất M2, sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn L, xã H1, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 27/01/2023, Hồ Văn L đi xe khách từ tỉnh G.L về tỉnh Thừa Thiên Huế. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 28/01/2023, khi xe khách đến cầu Tuần thuộc địa phận xã H1, thành phố H thì L xuống xe. L đi bộ trên tuyến đường Quốc lộ 49B thuộc thôn L, xã H1, thành phố H thì thấy nhà của ông Lê T còn bật đèn nên L nảy sinh ý định đi vào lấy trộm tài sản, L đi từ phía sau khu vườn để vào nhà của ông T. Khi thấy vợ chồng ông T đang nằm ngủ trên giường có mắc màn, phía đầu giường có để 01 chiếc điện thoại Iphone, L lấy một cái kéo đã mang sẵn lén lút đến đầu giường ngủ dùng kéo cắt màn tạo khe hở rồi đưa tay vào lấy điện thoại. L tiếp tục lấy trộm 01 túi xách (dạng ba lô) của ông T đang treo ở góc tường nhà rồi bỏ điện thoại di động vừa lấy trộm được vào túi xách và đưa ra phía sau nhà cất giấu. Sau đó, L quay lại vào nhà ông T tìm thêm tài sản để lấy trộm thì bị ông T phát hiện, tri hô. L chạy ra sau vườn ông T lấy túi xách bỏ chạy ra hướng Quốc lộ 49B thì bị ông T cùng người dân đuổi theo bắt giữ và giao cho cơ quan Công an.
* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTS ngày 30/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Huế kết luận:
- 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Iphone 7plus, Model A1661FCCID: BCG-E3087AIC: 579C-E3087A, số imei: 359470086030972 (đã qua sử dụng): Tại thời điểm chiếm đoạt, trị giá 2.300.000 đồng
- 01 chiếc túi xách (dạng ba lô) màu đen – đỏ, có ghi hiệu SAMSONITE 1910, bị rách nhiều vị trí (đã qua sử dụng): Tại thời điểm chiếm đoạt, trị giá 20.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là 2.320.000 đồng.
* Về vật chứng thu giữ gồm:
- 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Iphone 7 plus (đã qua sử dụng);
- 01 chiếc túi xách (dạng ba lô) bằng vải, màu đen, có 02 quai tay cầm màu đỏ đen;
- 01 cây kéo bằng kim loại dài 17 cm, cán bằng nhựa màu vàng - đà, lưỡi bằng sắt màu trắng.
* Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế đã trả lại 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Iphone 7 plus và 01 chiếc túi xách (dạng ba lô) bằng vải cho chủ sở hữu là ông Lê T.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Lê T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm về dân sự.
Tại bản cáo trạng số 111/CT-VKSTPH ngày 28/3/2023, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố Hồ Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Văn L từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Lê T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy công cụ sử dụng vào việc phạm tội là 01 cây kéo bằng kim loại dài 17 cm, cán bằng nhựa màu vàng - đà, lưỡi bằng sắt màu trắng.
Về án phí: Bị cáo Hồ Văn L thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn giảm án phí, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận miễn án phí hình sự cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo nêu luận cứ bào chữa: Thống nhất với tội danh, điểm, khoản và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Ngoài ra, bị cáo người dân tộc thiểu số, thuộc gia đình có công với cách mạng; hoàn cảnh rất khó khăn và thuộc diện hộ nghèo; bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt là 06 tháng tù nhằm tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm để sớm trở về với gia đình.
Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Văn L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất với luận cứ bào chữa của người bào chữa, không bổ sung gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, không ai có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hồ Văn L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 01 giờ 00 phút sáng ngày 28/01/2023, Hồ Văn L đã có hành vi đột nhập vào nhà của ông Lê T ở tại thôn L, xã H1, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế lén lút lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus và 01 túi xách (dạng ba lô) của ông Lê T thì bị phát hiện bắt quả tang. Qua định giá xác định giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại là 2.320.000 đồng.
Với hành vi đã gây ra nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố bị cáo Hồ Văn L về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự tại bản cáo trạng số 111/CT-VKSTPH ngày 28/3/2023 là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Hồ Văn L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc xâm phạm bất hợp pháp đến quyền sở hữu tài sản của người khác đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, chỉ vì tham lam, bị cáo đã lợi dụng đêm khuya trời tối, lúc mọi người ngủ say, mất cảnh giác để lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân nên bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội đã gây ra.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị kết án và bản thân cũng đang có tiền án về hành vi Trộm cắp tài sản nhưng bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội là thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Ngoài ra, bị cáo là người dân tộc thiểu số, có bố là người có công với cách mạng và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảim nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Lê T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: 01 cây kéo bằng kim loại dài 17 cm, cán bằng nhựa màu vàng - đà, lưỡi bằng sắt màu trắng là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Xét bị cáo Hồ Văn L thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn giảm án phí, Hội đồng xét xử xét có căn cứ chấp nhận, miễn án phí hình sự cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hồ Văn L 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 28/01/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cây kéo bằng kim loại dài 17 cm, cán bằng nhựa màu vàng - đà, lưỡi bằng sắt màu trắng.
Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế lập ngày 29/3/2023.
3. Về án phí: Bị cáo Hồ Văn L được miễn án phí hình sự sơ thẩm nên không phải chịu.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TT – Huế (Phòng KTNV); - Phòng PV06 Công an tỉnh TT – Huế; - Sở Tư pháp; - VKSND thành phố Huế; - Công an thành phố Huế (Phòng THAHS); - Chi cục THADS thành phố Huế; - Bị cáo; - Bị hại, - Lưu HSVA, Tòa HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Ngô Văn Nam |