- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Lê Thanh T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Quốc K"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thanh T ly hôn với anh Nguyễn Quốc K.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 142/2023/HNGĐ-ST Ngày 10-7-2023. V/v ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Trọn.
Bà Đoàn Thị Sim.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 10 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 143/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023 về Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 251/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thanh T, sinh năm 1997 (Vắng mặt).
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Đ, xã P, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã H, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc K, sinh năm 1992 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Đ, xã P, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11 tháng 4 năm 2023 cùng các văn bản khác kèm theo, nguyên đơn chị Lê Thanh T trình bày: Vào năm 2021 chị và anh Nguyễn Quốc K kết hôn, đến ngày 29 tháng 12 năm 2021 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Trong quá trình chung sống giữa chị và anh K đã xảy ra nhiều mâu thuẫn do không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường cự cải với nhau, chị và anh K đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2022 cho đến nay. Do cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh K không còn hạnh phúc, không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Quốc K. Về con chung, tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Quốc K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do. Đồng thời, cũng không cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thanh T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Việc chị Lê Thanh T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Quốc K là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn anh Nguyễn Quốc K cư trú tại ấp Đ, xã P, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Lê Thanh T vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Quốc K đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị T và anh K là đúng theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân, chị T và anh K kết hôn và có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên hôn nhân giữa chị T và anh K là hôn nhân hợp pháp. Chị T yêu cầu ly hôn với anh K vì chị T cho rằng quá trình chung sống giữa chị T và anh K đã xảy ra nhiều mâu thuẫn do không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường cự cãi với nhau, từ đó cuộc sống hôn nhân giữa chị T và anh K không còn hạnh phúc, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn, đoàn tụ nên đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2022 cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án anh K không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị T, cũng như không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh K đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận cho chị T ly hôn với anh K là có căn cứ đúng theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Chị Lê Thanh T xác định con chung, tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết. Anh Nguyễn Quốc K không có ý kiến về những vấn đề trên nên không đặt ra xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị Lê Thanh T phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thanh T ly hôn với anh Nguyễn Quốc K.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị Lê Thanh T phải chịu số tiền 300.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018833, ngày 17 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên chị Lê Thanh T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hồng Huệ |