vanban.org

Bản án 142/2023/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và Gia đình điều chỉnh; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
C HUYỆN CỜ ĐỎ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2023/HN-ST
Ngày: 14/11/2023
V/v: “Tranh chấp xin ly hôn,
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ – TP. CẦN THƠ

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Trung Hậu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Thanh Vũ

2. Ông Lê Văn Thừa

- Thư ký phiên tòa: Ông Điêu Khắc Khanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Ngày 14 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 229/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 353/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2023, giữa các bên đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Số A, khu vực B, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn: Ông Đào Minh D, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, huyện C, TP ..

Nguyên đơn, bị đơn có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Phần trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T theo đơn khởi kiện quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm như sau:

Năm 2020, bà và ông D tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ vào ngày 30/9/2021. Quá trình sống có một người con chung là Đào Mẫn N (nữ), sinh ngày 05/9/2021.

Ban đầu chung sống hạnh phúc nhưng về sau xảy ra mâu thuẫn. Trong 06 tháng gần đây bà và ông D bắt đầu thường xuyên cự cãi, lâu ngày không có tiếng nói chung, về sau bà không còn tình cảm với chồng. Ông D thường xuyên nhậu nhẹt không chăm lo vợ con. Mâu thuẫn tình cảm vợ chồng ngày càng gay gắt, hai vợ chồng không hợp tính với nhau và đã ly thân với nhau. Nay, cảm thấy không còn chung sống được với nhau nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông D.

Về con chung: Bà và ông D có một người con chung là Đào Mẫn N (nữ), sinh ngày 05/9/2021. Sau khi ly hôn bà xin giành quyền trực tiếp nuôi con chung. Không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phần trình bày của bị đơn ông Đào Minh D trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm như sau:

Ông và và T ban đầu chung sống hạnh phúc nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến không còn tiếng nói chung và đã ly thân với nhau như bà T trình bày. Mâu thuẫn giữa ông bà T chỉ là những mâu thuẫn nhỏ, ông vẫn còn thương vợ và các con nên không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Ông và bà T có một người con chung là Đào Mẫn N (nữ), sinh ngày 05/9/2021. Nếu Tòa án giải quyết cho bà T ly hôn với ông thì ông xin giành quyền trực tiếp nuôi con. Không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn giữ nguyên quan điểm yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết cho ly hôn với bị đơn, bị đơn không đồng ý. Sau khi ly hôn bà T xin giành quyền trực tiếp nuôi con chung là Đào Mẫn N (nữ), sinh ngày 05/9/2021, bà T không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung. Ông D yêu cầu giành quyền trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Đào Minh D có đăng ký kết hôn nên xác định hôn nhân hợp pháp thuộc ngành Luật Hôn nhân và Gia đình điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Đào Minh D có địa chỉ cư trú tại số A, ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T, nhận thấy nguyên nhân mâu thuẫn là do bà T và ông D không cùng quan điểm sống, vợ chồng không còn hợp nhau thường xuyên gây cãi dẫn đến không còn tiếng nói chung. Ông D thường xuyên nhậu nhẹt không chăm lo cho gia đình, bà T đã chịu đựng nhiều nhưng ông D vẫn không chịu sửa đổi. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt, hai vợ chồng không hợp tính với nhau và đã ly thân từ sáu tháng nay. Ông D không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ con, muốn chăm lo cho gia đình. Hội đồng xét xử nhận thấy, quan hệ hôn nhân là sự gắn kết giữa vợ chồng, phải có sự đồng thuận, tự nguyện từ hai phía, phải có tình yêu thương quan tâm và chăm sóc các thành viên trong gia đình. Tòa án đã hòa giải vào ngày 31/10/2023 và cho thời gian để các bên đương sự hàn gắn tình cảm gia đình. Bên cạnh đó, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã động viên các bên hàn gắn lại tình cảm nhưng không thành. Xét thấy mâu thuẫn giữa ông bà đã trầm trọng không thể vận động đoàn tụ do ông bà không còn sự yêu thương, tin tưởng nhau trong cuộc sống nên bà T yêu cầu ly hôn là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Ông bà có một người con chung là Đào Mẫn N (nữ), sinh ngày 05/9/2021. Bà T giành quyền trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con. Ông D cũng xin giành quyền trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Đào Mẫn N (nữ), sinh ngày 05/9/2021 chưa đủ 36 tháng tuổi nên cần sự quan tâm, chăm sóc trực tiếp từ người mẹ là bà T nên thiết nghĩ cần giao cháu N cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của cháu về thể chất và tinh thần. Bà T không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện của bà nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Bị đơn ông D được quyền thăm nom, giáo dục con chung và không ai được quyền cản trở bị đơn thực hiện quyền này.

[3] Về tài sản chung: Các bên đương sự tự thỏa thuận nên không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn xác định hiện tại không có nên không yêu cầu giải quyết. Để đảm bảo quyền lợi cho các bên nên không xem xét giải quyết. Tách phần tài sản chung và nợ chung ra giải quyết thành vụ án khác khi đương sự có yêu cầu và có đủ cơ sở chứng minh.

[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T đối với bị đơn ông Đào Minh D.

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với ông Đào Minh D.

Về con chung: Giao con chung Đào Mẫn N (nữ), sinh ngày 05/9/2021 cho bà Nguyễn Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con do nguyên đơn không yêu cầu.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông D không ai được quyền ngăn cản ông thực hiện quyền này.

Về tài sản chung: Các bên đương sự tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thanh T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu số 0004659 ngày 11/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ thành án phí. Bà T đã nộp xong án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ