vanban.org

Bản án 142/2023/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 08/03/2023 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Không chấp nhận kháng cáo của bà Ngô Thị T, giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 14/2022/HC-ST ngày 31 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

[2]. Về án phí: Miễn án phí hành chính phúc thẩm cho bà Ngô Thị T. [3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 14/2022/HCST Tuyên án 31/08/2022
Phúc thẩm — đang xem Bản án 142/2023/HC-PT Tuyên án 08/03/2023

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "NKK Ngô Thị T - NBK UBND xã PĐ huyện VT"
  • Tòa quyết gì? [1]. Không chấp nhận kháng cáo của bà Ngô Thị T, giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 14/2022/HC-ST ngày 31 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Căn cứ chính? Điều 241 Luật tố tụng Hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:142/2023/HC-PT
Ngày: 08/3/2023
V/v: “Khởi kiện quyết định hành
chính, hành vi hành chính”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tiến;

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Tất Nam;

Ông Hồ Sỹ Hưng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương, Kiểm sát viên

Ngày 08 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 406/2022/TLPT-HC ngày 06 tháng 10 năm 2022, về “Khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 14/2022/HC-ST ngày 31 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1700/2023/QĐ-PT ngày 23 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, giữa đương sự:

1. Người khởi kiện: Bà Ngô Thị T, sinh năm 1952; địa chỉ: huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc; có mặt.

2. Người bị kiện:

- Ủy ban nhân dân xã P.Đ, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P.Đ, huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc.

Người đại diện hợp pháp của UBND xã P.Đ và Chủ tịch UBND xã P.Đ: Ông Nguyễn Danh Q – Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND xã P.Đ là đại diện theo ủy quyền (Văn bản uỷ quyền số 01/GUQ-UBND ngày 05/11/2021 của Chủ tịch UBND xã P.Đ). (Có đơn xét xử vắng mặt).

- Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.

Người đại diện hợp pháp của UBND huyện Vĩnh Tường và Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Tường: Ông Hoàng Tuấn T – Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Tường là đại diện theo ủy quyền (Văn bản uỷ quyền số 640/GUQ-UBND ngày 08/3/2022 của Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Tường), (vắng mặt).

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Danh T, sinh năm 1986; địa chỉ: huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Thanh: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn Bảo Trưng, xã P.Đ, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/5/2021, đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện đề ngày 07/6/2021, ngày 20/7/2021 và quá trình tố tụng, người khởi kiện bà Ngô Thị T trình bày:

Bà sinh ra và lớn lên ở xã Đại Tự, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Cuối năm 1976, bà kết hôn với ông Nguyễn Danh Đ và nhập hộ khẩu về nhà chồng ở xã P.Đ, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Bà và ông Đ có 3 người con chung, gồm: Chị Nguyễn Thị H, sinh ngày 22/3/1978; anh Nguyễn Danh S, sinh ngày 23/5/1980 và anh Nguyễn Danh T, sinh năm 1986 nhưng trong giấy tờ thể hiện là ngày 20/5/1987.

Tháng 2 năm 1987, ông Đ chết, khi đó bà và các con vẫn ở cùng cụ C, nhưng có tách khẩu riêng gồm Ngô Thị T (chủ hộ), các con là Nguyễn Thị H, Nguyễn Danh S và Nguyễn Danh T là thành viên. Thời gian đó mẹ đẻ bà là cụ Nguyễn Thị B già yếu ở một mình nên bà phải đi lại giữa hai nhà mẹ đẻ và mẹ chồng, vừa để chăm sóc mẹ đẻ, vừa để chăm sóc các con là c H và anh S. Khi đó c H 09 tuổi, anh S 07 tuổi ở cùng cụ C, còn anh T mới được 01 tuổi còn quá nhỏ nên đi theo bà về ở cùng cụ Bé. Tuy nhiên, bà và anh T vẫn đi đi về về giữa hai nhà và hộ khẩu của bà và anh T vẫn đăng ký ở xã P.Đ, huyện Vĩnh Tường.

Năm 1993, Nhà nước thực hiện việc giao đất nông nghiệp theo Nghị định 64 và Quyết định 450 thì xã không thông báo cho bà và anh T về chia đất, chỉ có ông Nguyễn Danh S2 là em trai ông Đ thông báo cho bà biết về việc chia đất vì khi đó bà đang sinh sống ở xã Đại Tự, huyện Yên Lạc. Thời gian đó bà ốm đau phải đi chữa bệnh nên có ủy quyền cho ông S2 nhận đất thay cho bà và anh T (việc uỷ quyền chỉ nói miệng không có giấy tờ). Sau đó, ông S2 có thông báo lại với bà là trường hợp của bà và anh T không được chia đất do nợ sản lượng. Sau đó, bà trực tiếp lên xã hỏi thì được biết bà và anh T không có trong hộ khẩu tại xã P.Đ nữa mà tên của bà và anh T đã bị gạch bỏ. Bà khẳng định bà lấy chồng và nhập khẩu về nhà chồng ở xã P.Đ, sinh ra ba người con đều đăng ký hộ khẩu nhà chồng, từ đó đến nay không chuyển khẩu đi đâu khác, vậy tại sao tài liệu ở xã lại thể hiện bà và anh T đã bỏ về Đại Tự từ tháng 8/1988. Điều này dẫn đến việc bà và anh T không được chia ruộng theo nhân khẩu. Do đó, bà đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc giải quyết:

- Huỷ Văn bản số 03/TL-UBND ngày 10/01/2020 của UBND xã P.Đ về việc trả lời đơn đề nghị của công dân.

- Huỷ Quyết định số 187/QĐ-UBND ngày 04/11/2020 của Chủ tịch UBND xã P.Đ về việc giải quyết khiếu nại của bà Ngô Thị T.

- Huỷ Quyết định số 2263/QĐ-UBND ngày 07/5/2021 của Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Tường về việc giải quyết khiếu nại của bà Ngô Thị T.

- Buộc UBND xã P.Đ và UBND huyện Vĩnh Tường giao ruộng bổ sung cho gia đình bà Ngô Thị T đối với 02 nhân khẩu chia thiếu.

Người đại diện hợp pháp của UBND xã P.Đ và Chủ tịch UBND xã P.Đ, huyện Vĩnh Tường trình bày:

- Về thẩm quyền ban hành Văn bản số 03/TL- UBND ngày 10/01/2020:

Ngày 06/9/2019, UBND xã P.Đ nhận được đơn đề nghị xin giao đất canh tác theo NĐ 64 CP của bà Ngô Thị T.

Ngày 10/01/2020, UBND xã P.Đ ban hành Văn bản số 03/TL-UBND về việc trả lời đơn bà Ngô Thị T.

Như vậy, bà Ngô Thị T gửi đơn đề nghị đến UBND xã P.Đ và UBND xã trả lời là đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung Văn bản số 03/TL- UBND ngày 10/01/2020.

Thực hiện Chỉ thị số 11-CT/TU ngày 11/11/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Phúc về việc tiếp tục thực hiện công tác dồn thửa đổi ruộng trong nông nghiệp; Nghị quyết số 07-NQ/HU ngày 15/12/2016 Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa XXV về dồn thửa đổi ruộng giai đoạn 2016-2020; Kế hoạch số 1203/KH-UBND ngày 23/5/2018 của UBND huyện Vĩnh Tường về triển khai dồn thửa, đổi ruộng trong năm 2018; năm 2018, UBND xã P.Đ triển khai công tác dồn thửa đổi ruộng tại 06/07 thôn dân cư.

Tại Mục 2 của Chỉ thị số 11-CT/TU ngày 11/11/2016 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc nêu: Dồn thửa đổi ruộng phải đảm bảo yêu cầu và nguyên tắc: “Tuân thủ các quy định của Luật Đất đai và các văn bản pháp luật hiện hành. Không đặt vấn đề chia lại ruộng đất cũng như giải quyết các tồn tại trong giao ruộng những năm trước đây; lấy kết quả giao đất theo Nghị định 64-CP ngày 27/8/1993 của Chính phủ và đất nông nghiệp đã nhận quyền sử dụng đất hợp pháp làm cở sở để xác định tiêu chuẩn dồn, đổi; không đặt vấn đề chia thêm hoặc rút bớt diện tích.”

Khoản 2, Mục II Nghị quyết số 07-NQ/HU ngày 15/12/2016 của Huyện ủy Vĩnh Tường nêu: “...Dồn thửa đổi ruộng phải giữ nguyên số nhân khẩu và diện tích đã giao cho hộ theo Nghị định số 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ (sau khi trừ đi phần diện tích đã thu hồi, chuyển nhượng, cho, tặng)...”

Mặt khác, trong quá trình thực hiện dồn thửa đổi ruộng, UBND xã P.Đ nhận được một số đơn đề nghị của công dân với nội dung: Tại thời điểm thực hiện Quyết định số 450/QĐUB ngày 19/5/1992 của UBND tỉnh Vĩnh Phú, Nghị định số 64 -CP ngày 17/9/1993 của Chính Phủ, Quyết định số 159/QĐ-UB ngày 08/02/1994 của UBND tỉnh Vĩnh Phú thì hộ gia đình bị thiếu khẩu, diện tích. Nay địa phương thực hiện chủ trương dồn thửa đổi ruộng (viết tắt là DTĐR) hộ gia đình đề nghị chia trả số khẩu và diện tích còn thiếu đó.

Ban chỉ đạo dồn thửa đổi ruộng xã đã có Báo cáo số 01/BC-UBND ngày 27/12/2018 xin ý kiến UBND huyện để trả lời đơn đề nghị của một số hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn xã trong quá trình thực hiện dồn thửa đổi ruộng.

Ngày 04/01/2019, UBND huyện đã ban hành Văn bản số 17/UBND –TNMT về việc chia trả số khẩu và diện tích còn thiếu cho các hộ theo Nghị định 64/CP với ý kiến: “Chủ trương dồn thửa đổi ruộng có ý nghĩa lớn và tầm quan trọng nhằm khắc phục tình trạng manh mún, phân tán về ruộng đất, đẩy nhanh việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Nguyên tắc thực hiện dồn thửa đổi ruộng phải đảm bảo quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đã được giao theo Nghị định 64/CP của Chính phủ, Quyết định 450/QĐ-UB ngày 19/5/1992, Quyết định số 159/QĐ-UB ngày 08/02/1994 của UBND tỉnh Vĩnh Phú (cũ) và người nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Lấy số khẩu và diện tích giao cho mỗi khẩu ở thời điểm 15/10/1993 khi thực hiện Nghị định 64/CP của Chính phủ và các Quyết định số 450/QĐ-UB ngày 19/5/1992, Quyết định số 159/QĐ-UB ngày 08/02/1994 của UBND tỉnh Vĩnh Phú (cũ) và diện tích nhận quyền sử dụng đất hợp pháp làm tiêu chuẩn, không chia thêm và cũng không rút bớt. Không đặt vấn đề chia lại ruộng đất cũng như giải quyết những tồn tại trong giao ruộng trước đây.”

Từ những căn cứ nêu trên, việc ban hành Văn bản trả lời số 03/TL-UBND ngày 10/01/2020 là đúng quy định của pháp luật về nội dung và trình tự.

- Về thẩm quyền ban hành Quyết định số 187/QĐ-UBND ngày 04/11/2020 của Chủ tịch UBND xã P.Đ về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Ngô Thị T, căn cứ Điều 17 Luật Khiếu nại quy định về thẩm quyền của Chủ tịch UBND xã, thì UBND xã P.Đ giải quyết khiếu nại lần đầu của Bà T là đúng thẩm quyền.

- Về nội dung Quyết định số 187/QĐ-UBND ngày 04/11/2020 của Chủ tịch UBND xã P.Đ:

Ngày 26/02/2020, UBND xã P.Đ nhận được đơn khiếu nại của bà Ngô Thị T.

Ngày 06/3/2020, UBND xã P.Đ thông báo về việc thụ lý giải quyết khiếu nại lần đầu.

Ngày 09/3/2020, Chủ tịch UBND xã P.Đ ban hành Quyết định về việc giao nhiệm vụ xác minh nội dung khiếu nại

Ngày 10/3/2020, Chủ tịch UBND xã P.Đ ban hành Quyết định về việc xác minh nội dung khiếu nại.

Ngày 11/3/2020, Tổ xác minh đơn khiếu nại đã ban hành Kế hoạch xác minh nội dung khiếu nại.

Ngày 20/10/2020, Tổ xác minh ban hành Báo cáo số 103/BC-TXM về kết quả xác minh nội dung khiếu nại.

Ngày 04/11/2020, Chủ tịch UBND xã P.Đ ban hành Quyết định số 187/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà Ngô Thị T.

Căn cứ Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11/11/2011, Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại, Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013, Thông tư số 02/2016/TT-TTCP ngày 20/10/2016 của Thanh tra Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định giải quyết khiếu nại hành chính, Chủ tịch UBND xã P.Đ ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại của bà Ngô Thị T là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền, nội dung, trình tự, thủ tục pháp luật quy định.

Đối với yêu cầu khởi kiện của Bà T, UBND và Chủ tịch UBND xã P.Đ không đồng ý, đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người đại diện hợp pháp của người bị kiện UBND huyện Vĩnh Tường và Chủ tịch UBND huyện ông Hoàng Tuấn Tam trình bày:

- Về trình tự, thủ tục thụ lý và giải quyết khiếu nại:

Ngày 02/12/2020, UBND huyện Vĩnh Tường nhận được đơn khiếu nại đề ngày 30/11/2020 của bà Ngô Thị T.

Ngày 17/12/2020, UBND huyện Vĩnh Tường ban hành Công văn số 2990/UBND-TTr về việc chuyển đơn của bà Ngô Thị T. Giao phòng Tài nguyên và Môi trường huyện phối hợp các cơ quan liên quan, tham mưu UBND huyện xem xét giải quyết theo quy định.

Ngày 07/01/2021, Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Tường đã thụ lý giải quyết khiếu nại lần 2 tại Thông báo số 03/TB-UBND và giao nhiệm vụ xác minh nội dung khiếu nại cho Tổ xác minh khiếu nại tại Quyết định số 10/QĐ UBND. Cùng ngày, Tổ xác minh khiếu nại xây dựng kế hoạch kiểm tra, xác minh nội dung khiếu nại số 01/KH-TXMKN và tiến hành làm việc đối thoại thu thập hồ sơ tài liệu có liên quan đến nội dung khiếu nại.

Ngày 24/3/2021, Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Tường đã ban hành Quyết định số 1669/QĐ-UBND về việc gia hạn thời hạn xác minh nội dung khiếu nại. Ngày 06/05/2021 Tổ xác minh khiếu nại báo cáo kết quả xác minh số 01/BC-TXMKN.

Trên cơ sở kết quả xác minh khiếu nại của Tổ xác minh, Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Tường đã căn cứ quy định của Luật Khiếu nại năm 2011 ban hành Quyết định số 2263/QĐ-UBND ngày 07/05/2021 về việc giải quyết khiếu nại của bà Ngô Thị T ở thôn Thượng, P.Đ, huyện Vĩnh Tường.

- Về nội dung yêu cầu tuyên hủy Quyết định số 2263/QĐ-UBND ngày 07/05/2021 của Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Tường:

Việc Bà T đề nghị giao đất nông nghiệp cho bà và ông Nguyễn Danh T vì UBND xã P.Đ chia thiếu 02 khẩu đất vào năm 1992 và năm 1993 là không có cơ sở để xem xét, giải quyết vì những lý do:

+ Bà T và anh T không có mặt tại địa phương vào thời điểm chia ruộng theo Quyết định số 450/QĐ-UB năm 1992 của UBND tỉnh Vĩnh Phú và Nghị định số 64-CP năm 1993 của Chính phủ.

Thực hiện Chỉ thị số 100-CT/TW ngày 13/01/1981 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp, vào khoảng những năm 1982, UBND xã P.Đ có giao khoán ruộng cho các hộ gia đình trên địa bàn xã trong đó có hộ gia đình Bà T, hộ Bà T phải nộp sản phẩm về cho HTX nông nghiệp. Việc giao khoán ruộng này không phải là giao đất nông nghiệp, do đó, việc Bà T cho rằng năm 1982, gia đình bà được giao 4 khẩu đất nông nghiệp bao gồm cả ông Nguyễn Danh T (sinh năm 1986) là không đúng.

Bà T và ông Nguyễn Danh Đ kết hôn năm 1976, cư trú tại xã P.Đ nên sổ đăng ký hộ khẩu hộ tịch trước năm 1988 và sổ đăng ký hộ khẩu hộ tịch giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1999 có khẩu Bà T và anh T. Tuy nhiên, Sổ đăng ký hộ khẩu từ năm 1988 đến năm 1999 đã gạch bỏ Bà T và anh T, đồng thời thể hiện Bà T, anh T bỏ về Đại Tự từ tháng 11/1988. Qua kiểm tra, rà soát, sau khi bị gạch tên trong sổ đăng ký hộ khẩu của UBND xã P.Đ, giai đoạn từ tháng 11/1988 đến năm 1999, Bà T, anh T không nằm trong hộ khẩu của cụ C (mẹ chồng Bà T), ông Nguyễn Danh Đông và ông Nguyễn Danh S2 (em chồng Bà T). Ngược lại, chị Nguyễn Thị H (con gái Bà T) và anh Nguyễn Danh S (con trai Bà T) có tên trong hộ khẩu của cụ Lê Thị Cúc. Do đó, có căn cứ để xác định giai đoạn từ tháng 11/1988 đến thời điểm UBND xã P.Đ thực hiện chia ruộng theo Quyết định số 450/QĐ-UB ngày 19/5/1992 của UBND tỉnh Vĩnh Phú và Nghị định số 64-CP năm 1993 của Chính phủ, Bà T và anh T vắng mặt tại địa phương.

Căn cứ Điều 13 Nghị định số 04-HĐBT ngày 07/01/1988 của Hội đồng bộ trưởng ban hành điều lệ đăng ký và quản lý hộ khẩu quy định: “Những người 15 tuổi trở lên đi vắng khỏi nội thành, nội thị và huyện nơi thường trú của mình phải khai báo tạm vắng... Thời hạn tạm vắng không quá 6 tháng, người nào vắng quá 6 tháng không có lý do rõ ràng thì cơ quan đăng ký hộ khẩu nơi thường trú xoá tên trong sổ hộ khẩu. Khi người ấy trở về sẽ xét đăng ký hộ khẩu trở lại. Người đi công tác, họp hội nghị hoặc đi chữa bệnh trong thời gian nói trên cũng phải khai báo tạm vắng” Theo quy định trên, đối với trường hợp vắng mặt quá 06 tháng tại địa phương thì cơ quan nơi đã đăng ký hộ khẩu sẽ xóa tên khỏi sổ đăng ký hộ khẩu.

Khi thực hiện chia ruộng năm 1992 theo Quyết định số 450/QĐ-UB và chia ruộng 1993 theo Nghị định số 64-CP, UBND xã P.Đ đã rà soát số nhân khẩu của hộ Bà T, hộ cụ C, hộ ông Đông và hộ ông S2 để xác định số nhân khẩu của các hộ. Bà Ngô Thị T, anh Nguyễn Danh T không có mặt tại địa phương và đã bị gạch tên khỏi sổ đăng ký hộ khẩu, hộ tịch. Chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Danh S có mặt tại địa phương và theo sổ đăng ký khẩu, hộ tịch giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1999 thì c H, anh S được điều chỉnh nằm trong hộ cụ C. Trong quá trình UBND xã P.Đ xác định số nhân khẩu của các hộ vào năm 1992 và năm 1993, Bà T không có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến việc xác định số khẩu của gia đình bà, mặc dù Bà T và anh T không được chia ruộng vào thời điểm đó. Mặt khác, tại buổi đối thoại ngày 16/4/2021, Bà T cũng khẳng định vào thời điểm chia ruộng năm 1992, 1993, không có mặt tại địa phương.

Kết quả làm việc với các thành phần có liên quan tại thời điểm năm 1992 và 1993 đều khẳng định khi HTX nông nghiệp, UBND xã và Tổ chia ruộng thôn xác định nhân khẩu để thực hiện chia ruộng, Bà T, anh T không có hộ khẩu tại P.Đ. Các hồ sơ tài liệu Bà T cung cấp cho Tổ xác minh khiếu nại không có hồ sơ, tài liệu nào chứng minh Bà T và anh T có mặt tại địa phương trong giai đoạn UBND xã P.Đ thực hiện chia ruộng năm 1992 và năm 1993. Văn bản Bà T cung cấp cho Tổ xác minh khiếu nại có chữ ký của ông Nguyễn Công Toại (nguyên Chủ tịch UBND xã P.Đ) không thể hiện UBND xã có giao cho bà và anh T 02 khẩu đất. Việc Bà T cho rằng bà Nguyễn Thị Thanh đang sử dụng 02 thửa đất của hộ Bà T do UBND xã giữ lại không chia là không có căn cứ và không có cơ sở. Từ những lý do trên có thể khẳng định, khi UBND xã P.Đ thực hiện chia ruộng năm 1992 và năm 1993, Bà T và anh T vắng mặt và không có hộ khẩu tại xã P.Đ.

Căn cứ Điều 7 Quyết định số 450/QĐ-UB năm 1992 của UBND tỉnh Vĩnh Phú quy định về đối tượng được giao đất cây hàng năm đối với từng loại như sau: “1-Những người có hộ khẩu hợp pháp trong các gia đình xã viên HTX nông nghiệp (quỹ đất 1)." Tại Điều 6 Nghị định số 64-CP năm 1993 của Chính phủ quy định: “Đối tượng giao đất nông nghiệp để sử dụng ổn định lâu dài là nhân khẩu nông nghiệp thường trú tại địa phương, kể cả những người đang làm nghĩa vụ quân sự”.

Như vậy, theo các quy định trên, điều kiện để được giao đất nông nghiệp trên địa bàn là phải có hộ khẩu thường trú tại địa phương. Bà T, anh T không có hộ khẩu thường trú tại địa phương, đã bị gạch tên khỏi sổ đăng ký hộ khẩu thì không phải là đối tượng được giao đất nông nghiệp vào năm 1992 và năm 1993. Khoản 6 Điều 8 Quyết định số 450/QĐ-UB năm 1992 của UBND tỉnh Vĩnh Phú quy định “Những hộ còn nợ nhiều sản phẩm đối với HTX khi giao đất Hợp tác xã có thể giữ lại 01 phần nhưng tối đa không quá 40% định xuất” là áp dụng đối với các hộ gia đình có hộ khẩu tại địa phương, đủ điều kiện được giao đất nông nghiệp nhưng nợ sản phẩm HTX thì khi thực hiện giao ruộng đối với các hộ này HTX có thể giữ lại không quá 40% định xuất. Bà T, anh T không có hộ khẩu tại địa phương năm 1992, 1993 nên không thuộc trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 8 Quyết định số 450/QĐ-UB. Do đó, việc Bà T cho rằng bà và anh T không được giao do gia đình bà nợ sản phẩm nên UBND xã giữ lại không chia là không có cơ sở.

+ Đến nay, Nghị định số 64-CP năm 1993 của Chính phủ đã hết hiệu lực thi hành và được thay thế bởi Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính Phủ về việc thi hành Luật Đất đai năm 2003. Mặt khác, chủ trương thực hiện dồn thửa đổi ruộng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc tại Chỉ thị số 11/CT-TU ngày 11/11/2016 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc thể hiện: Dồn thửa đổi ruộng phải đảm bảo yêu cầu và nguyên tắc “Tuân thủ các quy định của Luật Đất đai và các văn bản pháp luật hiện hành. Không đặt vấn đề chia lại ruộng đất cũng như giải quyết các tồn tại trong giao ruộng những năm trước đây; lấy kết quả giao đất theo Nghị định 64-CP ngày 27/8/1993 của Chính phủ và đất nông nghiệp đã nhận quyền sử dụng đất hợp pháp làm cở sở để xác định tiêu chuẩn dồn, đổi; không đặt vấn đề chia thêm hoặc rút bớt diện tích”.

Do đó, UBND huyện Vĩnh Tường không đồng ý với yêu cầu tuyên hủy Quyết định số 2263/QĐ-UBND ngày 07/05/2021 của Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Tường. Đồng thời, không chấp nhận yêu cầu buộc UBND huyện Vĩnh Tường giao ruộng bổ sung cho gia đình Bà T đối với 02 nhân khẩu là Bà T và anh T. Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Danh T trình bày thống nhất với phần trình bày của Bà T.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 14/2022/HC-ST ngày 31/8/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193, khoản 1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:

1. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị T về việc đề nghị Tòa án huỷ Văn bản số 03/TL-UBND ngày 10/01/2020 của Ủy ban nhân dân xã P.Đ về việc trả lời đơn đề nghị của công dân; Quyết định số 187/QĐ-UBND ngày 04/11/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P.Đ về việc giải quyết khiếu nại của bà Ngô Thị T (lần đầu); Quyết định số 2263/QĐ-UBND ngày 07/5/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Tường về việc giải quyết khiếu nại của bà Ngô Thị T (lần hai).

2. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị T về việc buộc Ủy ban nhân dân xã P.Đ, huyện Vĩnh Tường và Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc giao ruộng bổ sung cho gia đình bà Ngô Thị T đối với 02 nhân khẩu chia thiếu.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 13/9/2022, bà Ngô Thị T có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà T.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bà Ngô Thị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, nội dung kháng cáo, và các quan điểm đã trình bày có trong hồ sơ vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ Văn bản số 03/TL-UBND ngày 10/01/2020 của Ủy ban nhân dân xã P.Đ về việc trả lời đơn đề nghị của công dân; Quyết định số 187/QĐ-UBND ngày 04/11/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P.Đ về việc giải quyết khiếu nại của bà Ngô Thị T (lần đầu); Quyết định số 2263/QĐ-UBND ngày 07/5/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Tường về việc giải quyết khiếu nại của bà Ngô Thị T (lần hai) và buộc Ủy ban nhân dân xã P.Đ, huyện Vĩnh Tường và Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc giao ruộng bổ sung cho gia đình bà Ngô Thị T đối với 02 nhân khẩu chia thiếu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng, các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật và đơn kháng cáo của người khởi kiện là hợp lệ trong hạn luật định đủ điều kiện xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các bên tại phiên tòa phúc thẩm đã khẳng định: Toà án cấp phúc thẩm đã hoãn phiên toà ngày 30/12/2022 và ngày 06/02/2023 để yêu cầu Bà T cung cấp chứng cứ giám định chữ ký, chữ viết của cán bộ gạch tên bà và anh T khỏi Sổ đăng ký hộ tịch, hộ khẩu nhưng Bà T không cung cấp các tài liệu theo yêu cầu của Tòa án; Trường hợp có kết quả giám định cũng không làm thay đổi bản chất vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã bác đơn khởi kiện của người khởi kiện là đúng quy định của pháp luật, kháng cáo của Bà T không có căn cứ chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm bác đơn kháng cáo của Bà T, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nghe lời trình bày của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Ngô Thị T khởi kiện Văn bản trả lời đơn đề nghị của công dân; Quyết định về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của UBND xã P.Đ; Quyết định giải quyết khiếu nại (lần hai) của UBND huyện Vĩnh Tường; buộc Ủy ban nhân dân xã P.Đ, huyện Vĩnh Tường và Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc giao ruộng bổ sung cho gia đình bà Ngô Thị T đối với 02 nhân khẩu chia thiếu. Khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 30; Điều 32; Điều 116 Luật tố tụng hành chính.

Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 10/01/2020, Ủy ban nhân dân xã P.Đ ban hành Văn bản số 03/TL-UBND về việc trả lời đơn đề nghị của công dân; Ngày 04/11/2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P.Đ Quyết định số 187/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà Ngô Thị T (lần đầu); Ngày 07/5/2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Tường Quyết định số 2263/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà Ngô Thị T (lần hai). Ngày 07/6/2021, bà Ngô Thị T gử i đơn khởi kiện vụ án hành chính đến Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. Như vậy, việc khởi kiện của bà Ngô Thị T còn trong thời hiệu khở i kiê ̣n theo quy đi ̣nh ta ̣i điểm a khoản 3 Điều 116 Luâ ̣t Tố tu ̣ng hành chính, được Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xem xét, thụ lý giải quyết là đúng theo quy định pháp luật.

Kháng cáo của người khởi kiện trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Tường và Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Tường vắng mặt nhưng đã được triệu tập hợp lệ; người đại diện người bị kiện là UBND xã P.Đ và Chủ tịch UBND xã P.Đ có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt; Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 157, khoản 1 Điều 158 của Luâ ̣t Tố tu ̣ng hành chinh Tó

̀a án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung:

Xét kháng cáo của người khởi kiện, Hội đồng xét xử thấy:

Tại phiên tòa phúc thẩm, Bà T không xuất trình thêm chứng cứ mới. Bà T đề nghị Tòa án giám định chữ ký, chữ viết của cán bộ gạch tên bà và tên anh Nguyễn Danh T khỏi Sổ đăng ký hộ tịch, hộ khẩu và giám đinh thời điểm gạch tên. Tuy nhiên, Tòa án đã 2 lần hoãn phiên tòa vào ngày 30/12/2022 và ngày 06/02/2023 để yêu cầu Bà T bổ sung chứng cứ là mẫu chữ ký của người cần giám định, nộp tiền tạm ứng chi phí giám định. Tuy nhiên, Bà T không thực hiện theo yêu cầu của Tòa án, từ bỏ việc đề nghị giám định.

Tại phiên toà, Bà T cũng thừa nhận không thường xuyên sinh sống tại địa phương.

Về yêu cầu của Bà T đối với việc đề nghị Tòa án huỷ Văn bản số 03/TL-UBND ngày 10/01/2020 của Ủy ban nhân dân xã P.Đ; Quyết định số 187/QĐ-UBND ngày 04/11/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P.Đ; Quyết định số 2263/QĐ-UBND ngày 07/5/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Tường. Buộc Ủy ban nhân dân xã P.Đ, huyện Vĩnh Tường và Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc giao ruộng bổ sung cho gia đình bà Ngô Thị T đối với 02 nhân khẩu chia thiếu, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

Tại Điều 6 Nghị định 64 quy định: “Đối tượng giao đất nông nghiệp để sử dụng ổn định lâu dài là nhân khẩu nông nghiệp thường trú tại địa phương, kể cả những người đang làm nghĩa vụ quân sự”

Tại điểm b khoản 2 Điều 2 Quyết định 159 quy định đối với những xã đã thực hiện Quyết định 450 thì thực hiện theo những điểm bổ sung, sửa đổi sau: “Diện tích đất giao theo số nhân khẩu tại thời điểm 1/4/1992 thì giữ ổn định. Số nhân khẩu phát sinh từ sau 1/4/1992 đến 15/10/1993 thì sau khi trừ quỹ đất công 5%, số đất khoán thầu còn lại chia cho số nhân khẩu phát sinh này.....”

Căn cứ các chủ trương nêu trên thì điều kiện để được giao đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phú nói chung và UBND xã P.Đ nói riêng giai đoạn năm 1992 - 1993 là phải thường trú và có mặt tại địa phương. Trường hợp Bà T và anh T không thường xuyên có mặt tại địa phương nên thời điểm năm 1992 – 1993, UBND xã P.Đ không có căn cứ để giao đất cho Bà T và anh T là chính xác.

Do không đủ điều kiện được giao đất nông nghiệp nên không có căn cứ để buộc Ủy ban nhân dân xã P.Đ, huyện Vĩnh Tường và Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc giao ruộng bổ sung cho gia đình bà Ngô Thị T đối với 02 nhân khẩu là Bà T và anh T.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã bác đơn khởi kiện của người khởi kiện là đúng quy định của pháp luật, kháng cáo của Bà T không có căn cứ chấp nhận. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa, bác kháng cáo của bà Ngô Thị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

. Về án phí: Bà T là người già có đơn xin miễn án phí, nên không phải chịu án phí phúc thẩm.

. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng Hành chính năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

[1]. Không chấp nhận kháng cáo của bà Ngô Thị T, giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 14/2022/HC-ST ngày 31 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

[2]. Về án phí: Miễn án phí hành chính phúc thẩm cho bà Ngô Thị T.

[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4]. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁN

CHỦ TỌA

Nguyễn Tất Nam

Hồ Sỹ Hưng

Nguyễn Mạnh Tiến

Cỡ chữ