- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lò Thị C và Hoàng Thị Kim H phạm tội "Môi giới mại dâm".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 328 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 142/2022/HS-ST Ngày: 28/7/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Quang Hậu.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Minh Tuấn
2. Bà Bùi Thị Quỳnh
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Long,Thư ký Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện VKSND quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Thủy
- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 137/2022/HSST ngày 6/7/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2022/HS-QĐ, ngày 18/7/2022, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lò Thị C – SN: 1992; Giới tính: Nữ; NKTT và nơi ở: phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Lò Văn H – SN: 1971; Họ và tên mẹ: Lò Thị H – SN: 1975; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ nhất; Họ và tên chồng: Lường Văn H – SN: 1987 (đã ly hôn); Bị cáo có 02 con lớn sinh năm 2009 và bé sinh năm 2011. Theo danh chỉ bản số: 148 lập ngày 01/6/2022 tại Công an quận Bắc Từ Liêm thì bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp ngày 24/3/2022, bị tạm giữ từ ngày 24/3/2022 đến ngày 1/4/2022 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Hoàng Thị Kim H – SN: 1997; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; NKTT và nơi ở: phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Hoàng Văn T – SN: 1971 (Đã chết); Họ và tên mẹ: Hoàng Thị S - SN: 1972; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2; Họ và tên chồng: Lò Văn T - SN:1995 (Đã ly hôn); Có 02 con lớn sinh năm 2016 và bé sinh năm 2018. Theo danh chỉ bản số: 147 lập ngày 01/6/2022 tại Công an quận Bắc Từ Liêm thì bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp ngày 24/3/2022, bị tạm giữ từ ngày 24/3/2022 đến ngày 1/4/2022 hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hà Trọng T - SN:1989; Địa chỉ: xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
- Anh Hà Văn H - SN:1981; Địa chỉ: xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
- Chị Đinh Thị A - SN:1998; Địa chỉ: xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ;
- Hà Văn K - SN:1991; Địa chỉ: xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
(Các người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 45 phút ngày 23/3/ 2022, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - Công an quận Bắc Từ Liêm tiến hành kiểm tra hoạt động lưu trú tại nhà nghỉ Hồng Nhung ở số 19 ngõ 74, đường Cầu Diễn, phường Phúc Diễn, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội phát hiện tại phòng 402 có Lò Thị C và anh Hà Trọng T; tại phòng 403 có Hà Văn H và Đinh Thị A; tại phòng 404 có Hoàng Thị Kim H và Hà Văn K đang quan hệ tình dục. Khai thác tại chỗ các đối tượng này khai nhận đến nhà nghỉ Hồng Nhung để mua bán dâm và được Lò Thị C và Hoàng Thị Kim H môi giới. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản sự việc, thu giữ tang vật và đưa các đối tượng về trụ sở làm rõ.
Vật chứng của vụ án:
*Thu giữ của Lò Thị C:
- 01 điện thoại Iphone 12Pro màu ghi, lắp sim số thuê bao: 0353261560, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- 3.500.000 đồng;
- 01 chiếc bao cao su đã qua sử dụng.
*Thu giữ của Hoàng Thị Kim H:
- 01 điện thoại Iphone 11 màu đen, lắp sim số thuê bao: 0916425072; đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- 01 bao cao su đã qua sử dụng.
*Thu giữ của Đinh Thị A:
-01 điện thoại Oppo Reno 6 màu xanh đen, lắp sim số thuê bao: 0337189826, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- 01 bao cao su đã qua sử dụng.
*Thu giữ của Hà Trọng T:
- 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh, lắp sim số thuê bao 0355096723, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
Tiến hành kiểm tra điện thoại của các bị can, gái bán dâm, khách mua dâm thể hiện có các cuộc gọi và tin nhắn zalo liên quan đến việc mua bán dâm.
Qúa trình điều tra xác định:
Khoảng 19 giờ ngày 22/03/2022, Hà Văn H cùng Hà Văn K và Hà Trọng T (có lai lịch như trên) ngồi uống bia tại quán Bia Thu H, đường Văn Tiến Dũng, phường Phúc Diễn, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Trong khi đang ngồi nhậu thì cả ba rủ nhau đi mua dâm và thỏa thuận mỗi người góp 1.000.000 đồng. Do T quen biết C từ trước nên T gọi điện từ số của T 0355096723 đến số điện thoại 0353261560 của Lò Thị C để đặt vấn đề mua dâm cho 03 người. C đồng ý và thỏa thuận giá bán dâm là 1.000.000 đồng/ người/ 01 giờ. Sau đó, vì có việc bận nên T đã gọi điện lại cho C hẹn ngày hôm sau sẽ gặp nhau tại nhà nghỉ Hồng Nhung ở số 19 ngõ 74, đường Cầu Diễn, phường Phúc Diễn, quận Bắc Từ Liêm để mua bán dâm, C đồng ý. Đến sáng ngày 23/3/2022, C liên lạc với Hoàng Thị Kim H rủ H đi bán dâm cùng với giá 1.000.000 đồng/ 01 giờ và bảo H rủ thêm 01 gái bán dâm nữa vì có 03 khách mua dâm. H đồng ý. Sau đó, H dùng tài khoản zalo “H” của H liên lạc với tài khoản zalo “A” của Đinh Thị A (có lai lịch như trên) để rủ A đi bán dâm với giá 1.000.000 đồng/ 01 giờ và A đồng ý. Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23/03/2022, Hà Văn H, Hà Văn K và Hà Trọng T đến quán cafe ở số 1 đường Văn Tiến Dũng, phường Phúc Diễn, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội uống nước và Tuyến gọi C ra gặp để đi mua bán dâm. Tại quán, T đã đưa cho C số tiền 3.500.000 đồng, trong đó 3.000.000 đồng là tiền mua dâm còn 500.000 đồng là tiền T cho C thêm. Sau đó H, H, T và C cùng nhau đi đến nhà nghỉ Hồng Nhung để mua bán dâm. Đến nơi, T gặp lễ tân lấy phòng 402,403 và 404. T và C lên phòng 402 để mua bán dâm, tại đây C gọi điện và nhắn tin cho H bảo H lên phòng 404 bán dâm cho H và A lên phòng 403 bán dâm cho H. Khoảng 10 phút sau, H và A đến nhà nhà nghỉ Hồng Nhung, H lên phòng 404 bán dâm cho H, A lên phòng 403 bán dâm cho H. Khoảng 13h45 phút cùng ngày, khi các đối tượng đang mua bán dâm (quan hệ tình dục) thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - Công an quận Bắc Từ Liêm kiểm tra hành chính phát hiện bắt giữ và thu giữ tang vật như trên.
Tại cơ quan điều tra: Lò Thị C khai nhận hành vi như trên và khai C rủ H đi bán dâm cùng và bảo H gọi thêm 01 gái bán dâm nữa đi cùng vì có 3 khách mua dâm. Đây là lần đầu C môi giới mại dâm, C không được hưởng lợi gì. Số tiền 500.000 đồng là T cho thêm C, không phải tiền công C gọi gái bán dâm. C chưa đưa tiền bán dâm cho H và A thì đã bị bắt.
Hoàng Thị Kim H khai nhận như trên và khai C gọi H đi bán dâm cùng và bảo H gọi thêm 01 gái bán dâm nữa nên H đã rủ A đi bán dâm, giá bán dâm 1.000.000 đồng/lần. H không được hưởng lợi gì. H chưa nhận được tiền bán dâm thì đã bị bắt.
Tại cơ quan điều tra, Đinh Thị A, Hà Trọng T, Hà Văn H, Hà Văn K khai nhận hành vi như trên.
Ngày 21/6/2022, cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lò Thị C, Hoàng Thị Kim H, Đinh Thị A về hành vi bán dâm với mức phạt 400.000 đồng; Hà Trọng T, Hà Văn H, Hà Văn K về hành vi mua dâm với mức phạt 1.500.000 đồng quy định tại khoản 1 Điều 24, 25 Nghị định 144 ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
Đối với chủ nhà nghỉ Hồng Nhung: quá trình điều tra xác định việc cho khách thuê phòng thực hiện theo đúng quy định; khi cho khách thuê phòng không biết để hoạt động mại dâm nên cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với các vật chứng cơ quan điều tra đã thu giữ liên quan đến hành vi phạm tội của các bị can nên Cơ quan điều tra chuyển theo hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa các bị cáo Lò Thị C và Hoàng Thị Kim H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng số 137/CT-VKS ngày 05/7/2022 củaViện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã truy tố.
Đại diện VKSND quận Bắc Từ Liêm vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với : Bị cáo Lò Thị C về tội: “Môi giới mại dâm” theo điểm đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự năm 2015; Bị cáo Hoàng Thị Kim H về tội: “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự năm 2015.
Căn cứ tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân người phạm tội. Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc từ liêm đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng Điểm đ Khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lò Thị C mức án từ 36 đến 40 tháng tù.
- Áp dụng Khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Kim H mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách từ 12 đến 18 tháng.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
+ Cho tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone 12Pro màu ghi, lắp sim số thuê bao: 0353261560, đã qua sử dụng; 01 điện thoại Iphone 11 màu đen, lắp sim số thuê bao: 0916425072 đã qua sử dụng; 01 điện thoại Oppo Reno 6 màu xanh đen, lắp sim số thuê bao: 0337189826, đã qua sử dụng; 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh, lắp sim số thuê bao 0355096723, máy đã qua sử dụng và số tiền 3.500.000 đồng;
+ Tịch thu tiêu hủy 03 chiếc bao cao su đã qua sử dụng.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình và rất ân hận, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo có cơ hội sửa chữa cải tạo thành người tốt.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các bị cáo và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với các quy định của pháp luật.
Những căn cứ xác định tội danh:
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và vật chứng được thu giữ cùng các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Lò Thị C và bị cáo Hoàng Thị Kim H đã thực hiện hành vi phạm tội sau:
Khoảng 13h30 ngày 23/3/2022, tại nhà nghỉ Hồng Nhung ở số 19 ngõ 74, đường Cầu Diễn, phường Phúc Diễn, quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội, bị cáo Lò Thị C đã bán dâm cho Hà Trọng T và môi giới cho Hoàng Thị Kim H bán dâm cho Hà Văn K và bảo Hoàng Thị Kim H môi giới cho Đinh Thị A bán dâm cho Hà Văn H với giá 1.000.000 đồng/người, khi các đối tượng đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị bắt quả tang. Vì vậy bản cáo trạng số: 137/CT-VKSBTL, ngày 05/7/2022 của VKSND quận Bắc Từ Liêm đã truy tố bị cáo Lò Thị C về tội “Môi giới mại dâm” theo điểm đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự; bị cáo Hoàng Thị Kim H về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất hành vi phạm tội:
Hành vi của các bị cáo Lò Thị C và Hoàng Thị Kim H là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới trật tự an toàn công cộng, ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa mới và là môi trường lây lan căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS và các căn bệnh xã hội khác. Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi phạm tội của mình là pháp luật nghiêm cấm nhưng do lười lao động, không chịu làm ăn chính đáng, các bị cáo đã rủ rê, lôi kéo nhau vào việc mua bán dâm. Do vậy việc đưa vụ án ra xét xử và phải ra một bản án nghiêm khắc đối với các bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hôi cải; Bị cáo H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trong; Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số; Bị cáo H có ông bà được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất và huy hiệu 50 năm tuổi đảng; bị cáo Lò Thị C có hoàn cảnh gia đinh khó khăn, bị cáo hiện đã ly hôn và đang phải nuôi hai con nhỏ. Thực tế các bị cáo không được hưởng lợi từ việc môi giới mại dâm. Vì vậy đây là các tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Để cá thể hóa hình phạt đối với từng bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Các bị cáo C, H phạm tội có “đồng phạm giản đơn”. Trong đó, bị cáo C là người khởi xướng trực tiếp môi giới cho H bán dâm cho khách, ngoài ra C còn nhờ H môi giới thêm một người phụ nữ khác bán dâm cho khách, do đó bị cáo C đã môi giới cho 02 người bán dâm nên đã bị định khung hình phạt quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự. Vì vậy hành vi của bị cáo C là nghiêm trọng nên mức hình phạt đối với bị cáo C phải cao hơn so với bị cáo H và phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn.
Đối với bị cáo H có vai trò giúp sức môi giới cho đối tượng A bán dâm cho khách nên bị truy tố theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự. Bị cáo H có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Thực tế bị cáo không được hưởng lợi từ việc môi giới mại dâm và hiện nay bị cáo đã ly hôn và đang phải nuôi con nhỏ. Vì vậy mức hình phạt đối với bị cáo H phải thấp hơn sơ với bi cáo C và xét cho bị cáo được hưởng án treo theo như đề nghị của vị đại diện VKS nhân dân quận Bắc Từ Liêm là có cơ sở và cũng để bị cáo có cơ hội cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội và cũng thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Bị cáo C được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Ngoài ra nhân thân bị cáo C chưa có tiền án, tiền sự và lần đầu bị đưa ra xét xử; bị cáo là người dân tộc thiểu số nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
+ Bị cáo H được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; Nhân thân chưa có tiền án tiền sự và lần đầu bị đưa ra xét xử; bị cáo là người Dân tộc thiểu số và bị cáo có ông, bà được tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, được tặng thưởng kỷ niệm chương 50 năm tuổi đảng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt bổ sung là hình phạt tiền: Xét các bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Đối với hành vi bán dâm của Đinh Thị A, hành vi mua dâm của Hà Trọng T, Hà Văn H, Hà Văn K. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm đã tiến hành xử phạt hành chính theo Nghị định số 144 ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Vì vậy Hội đồng xét xử không xét.
- Đối với chủ nhà nghỉ Hồng Nhung: quá trình điều tra xác định việc cho khách thuê phòng thực hiện theo đúng quy định; khi cho khách thuê phòng không biết để hoạt động mại dâm nên cơ quan điều tra không xử lý. Vì vậy Hội đồng xét xử không xét.
Về vật chứng:
+ Đối với 01 điện thoại Iphone 12Pro màu ghi, lắp sim số thuê bao: 0353261560, đã qua sử dụng; 01 điện thoại Iphone 11 màu đen, lắp sim số thuê bao: 0916425072 đã qua sử dụng; 01 điện thoại Oppo Reno 6 màu xanh đen, lắp sim số thuê bao: 0337189826, đã qua sử dụng; 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh, lắp sim số thuê bao 0355096723, máy đã qua sử dụng và số tiền 3.500.000 đồng là tài sản do các bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội. Vì vậy cho tịch thu sung công quỹ nhà nước;
+ Tịch thu tiêu hủy 03 chiếc bao cao su đã qua sử dụng.
Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Lò Thị C và Hoàng Thị Kim H phạm tội "Môi giới mại dâm".
1. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: bị cáo Lò Thị C 36 (ba mươi sáu) tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 24/3/2022 đến ngày 1/4/2022. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 17 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: bị cáo Hoàng Thị Kim H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo về UBND phường Tân An, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo:
- Áp dụng Điều 106, Điều 331, Điều 333, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Áp dụng Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
*Vật chứng của vụ án:
+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone 12Pro màu ghi, lắp sim số thuê bao: 0353261560, đã qua sử dụng; 01 điện thoại Iphone 11 màu đen, lắp sim số thuê bao: 0916425072 đã qua sử dụng; 01 điện thoại Oppo Reno 6 màu xanh đen, lắp sim số thuê bao: 0337189826, đã qua sử dụng; 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh, lắp sim số thuê bao 0355096723, máy đã qua sử dụng và số tiền 3.500.000 đồng.
+ Tịch thu tiêu hủy 03 chiếc bao cao su đã qua sử dụng.
(Vật chứng trên được xử lý theo biên bản giao, nhận vật chứng số 192/22, ngày 19/7/2022 của Cơ quan CSĐT công an quận Bắc Từ Liêm với Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm).
*Án phí: Các Bị Lò Thị C và Hoàng Thị Kim H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
* Quyền kháng cáo:
- Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng - VKSND Q.Bắc Từ Liêm; - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Công an Q.Bắc Từ Liêm; - Chi cục THA DS Q.Bắc Từ Liêm; - Lưu HS, VP. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Vũ Quang Hậu |