vanban.org

Bản án 142/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 30/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khường D phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Khương D 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, nếu bản án kHng bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Khương D cho Ủy ban nhân dân xã Long A, huyện L, tỉnh Đồng Nai giám sát giáo dục tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tich - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khường D phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142 /2022/HS-ST
Ngày 30 - 8 - 2022

NHÂN D

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH,TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim L.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Đẹp,

2. Bà Nguyễn Thị Thu Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Linh Thu Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà V Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 132/2022/HSST, ngày 22 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2022/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 8 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 66/2022/QĐ –HPT ngày 26/8/2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Khương D, tên gọi khác: KHng ; sinh ngày 03/11/2003 tại Bình Định.

Nơi đăng ký thường trú: Ấp Bàu T, xã BìnhA, huyện L, tỉnh Đồng Nai;

Nơi sinh sống: Khu tái định cư ấp 2, xã LongA, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: KHng; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công D, sinh năm 1969 và bà Võ Thị H, sinh năm 1979; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án; tiền sự: KHng .

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/5/2022 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành.

- Người bào chữa bị cáo D: Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1975 -Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Đồng Nai.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo D: Ông Nguyễn Công D, sinh năm 1969 và bà Võ Thị H, sinh năm 1979.

Cùng hộ khẩu thường trú: Ấp Bàu T, xã BìnhA, huyện L, tỉnh Đồng Nai;

Cùng địa chỉ sinh sống: Khu tái định cư, ấp 2, xã Long A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

- Bị hại: Anh Bùi Trí T, sinh năm 2002.

Địa chỉ: Ấp 5, xã Bình S, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

( Bị cáo, bà L, ông D, bà H có mặt , anh T vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Khương D và anh Bùi Trí T, sinh năm 2002 ngụ tại ấp 5, xã Bình S, huyện Lh cùng làm chung chuyền lắp ráp linh kiện của Công ty TopBand thuộc KCN Lộc An - Bình Sơn, có địa chỉ ở ấp Bưng Môn, xã Lộc An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 30/12/2021, anh T và D xảy ra mâu thuẫn, cự cãi nhau trong công việc nhưng được mọi người can ngăn. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày thì có người bạn tên V (kHng rõ họ, nhân thân, lai lịch) gọi điện thoại rủ D đi ăn, D kHng đi mà kể chuyện mâu thuẫn với anh T cho V nghe. Do còn bực tức anh T nên khi V nói đánh anh T để trả thù cho D thì D đồng ý và hẹn nhau tại phía trước cổng Công ty TopBand.

Sau khi tan ca vào khoảng 20 giờ cùng ngày, D điều khiển xe mô tô hiệu Wave, màu trắng biển số 67AC-06785 ra phía trước cổng Công ty TopBand thấy V cùng với 03 người thanh niên tên Trắng, Cu L và H (đều kHng rõ họ, nhân thân, lại lịch). Khi cả nhóm đang đứng đợi anh T ở vị trí bên trái cách cổng Công ty TopBand khoảng 200m thì V đưa cho D một con dao dài khoảng 40cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại rồi D giấu trong người. Khoảng 05 phút sau, cả nhóm thấy anh T điều khiển xe mô tô hiệu Winer, màu trắng đen (không rõ biển số) đi về theo hướng nhóm D đang đứng chờ thì V điều khiển xe Winner màu trắng đen, kHng rõ biển số chở theo Trắng đi trước, áp sát và dùng chân đạp vào xe làm cho T và xe ngã xuống. Cùng lúc này, H điều khiển xe mô tô hiệu Vario màu đen, kHng rõ biển số chở Cu L và D đạp vào xe của T làm cho T và xe ngã xuống đường. Lúc này, V ngồi trên xe mô tô, còn Trắng, H, Cu L và D xuống xe. Trắng, H và Cu L, dùng dùi cui bằng kim loại và cao su đánh nhiều cái trúng người anh T, còn D dùng dao chém 01 nhát trúng khủy tay phải của anh T rồi cả nhóm điều khiển xe mô tô bỏ chạy thoát. Sau đó anh T được gia đình đưa đi cấp Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai.

Ngày 05/01/2022, anh T đến công an xã Long A để trình báo sự việc trên.

Đến ngày 09/5/2022, D đến Công an huyện Long Thành để đầu thú về hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận giám định về thương tích số 0162/TgT/2022 ngày 24/02/2022 của Trung tâm pháp y- Sở y tế Đồng Nai kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định: - Sẹo vùng khuỷu tay phải kích thước 3,2 x 0,6cm. Tỷ lệ 02%.

- Tổn thương đứt cơ khuỷu phải hiện hạn chế vận động cẳng tay phải gấp duỗi được trong khoảng 050 => 1450. Tỷ lệ 11%.

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2012/TT-BYT ngày 28/8/20219 của Bộ trưởng Bộ y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Bùi Trí T-2002 áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư là 13% (Mười ba phần trăm).

Tại Kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 0666/ĐT/2022 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Đồng Nai kết luận: Qua kết quả khảo sát về hình thể ngoài, kết quả khảo sát về xương và khảo sát về răng. Kết luận độ tuổi của Nguyễn Khương D là 17 tuổi 06 tháng (+/06 tháng) kể từ ngày giám định 16/6/2022.

Tại cáo trạng số 122/CT -VKSLT -HS , ngày 21 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Nguyễn Khương D về tội “Cố ý gây thương tích ” theo điểm a khoản 1; điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Khương D như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 ,Điều 91Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đề nghị xử phạt bị Nguyễn Khương D mức án từ 18 tháng đến 22 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 đến 04 năm.

Việc thu giữ, tạm giữ, tài sản, vật chứng:

- 01 xe mô tô tô hiệu Wave, màu trắng biển số 67AC-06785 do anh Nguyễn D Khánh ngụ tại xã Bình Thủy, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang là chủ sở hữu. Quá trình lấy lời khai D khai mua của một người kHng rõ nhân thân lại lịch (kHng có các giấy tờ mua bán xe). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành đã ủy thác điều tra đến Công an huyện Châu Phú, tỉnh An Giang nhưng chưa có kết quả trả lời nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành tiếp tục tạm giữ, xác minh, điều tra xử lý sau.

- Đối với 01 con dao tự chế dài khoảng 40cm, 03 cây dùi cui bằng kim loại và cao su; 01 xe mô tô hiệu Wine Vario màu đen không rõ biển số sử dụng vào việc phạm tội kHng thu hồi được.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng, bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên kHng xét.

Người bào chữa cho bị cáo D: Bà Hoàng Thị L -Trợ giúp viên pháp lý phát biểu ý kiến: Thống nhất với quan điểm của kiểm sát viên về hình phạt và tội D đối với bị cáo D, trong vụ án này mâu thuẫn xuất phát từ việc anh Bùi Trí T làm chung với bị cáo kHng chịu nhận lỗi, đổ lỗi cho bị cáo D nên bị cáo bực tức kể lại cho V, khi V nói đánh T để trả thù, bị cáo đồng ý. Sau khi bị cáo phạm tội đã ra đầu thú và đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho anh T. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, suy nghĩ còn nông nổi nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội sửa chữa, hòa nhập cộng đồng trở thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Long Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo kHng có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Khương D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập có tại hồ sơ vụ án, bị cáo thống nhất với Bản kết luận giám định về thương tích số 0162/TgT/2022 ngày 24/02/2022 của Tâm tâm pháp y –Sở y tế Đồng Nai. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố bị cáo Nguyễn Khương D theo điểm a khoản 1; điểm đ, khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, bị cáo đã dùng dao để đâm bị hại, thương tích của bị hại do bị cáo D gây ra. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng: không.

- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo là người chưa thành niên, tuổi đời còn trẻ, hành động thiếu suy nghĩ, nông nổi, bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng, bị hại anh T có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo, sau khi phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy kHng cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành tốt cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Bùi Trí T không có yêu cầu bị cáo D phải bồi thường gì thêm nên không xét.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Khương D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khường D phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Khương D 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, nếu bản án kHng bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Khương D cho Ủy ban nhân dân xã Long A, huyện L, tỉnh Đồng Nai giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không xét.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UB.TVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Khương D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm .

4. Bị cáo Nguyễn Khương D, người bào chữa bà Hoàng Thị L, người đại diện hợp pháp của bị cáo ông Nguyễn Công D và bà Võ Thị H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại anh Bùi Trí T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ