vanban.org

Bản án 142/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 56; Điều 58; Điều 81; khoản 1, khoả n 3 Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng: Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Bà Nguyễn Hoàng Lan Th về ly hôn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Hoàng Lan Th yêu cầu ly hôn ông Lâm Quốc S"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 56; Điều 58; Điều 81; khoản 1, khoả n 3 Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2022/HNGĐ-ST
Ngày 30/8/2022
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Đức

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Dũng và ông Nguyễn Hoàng Diệu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Trần Tố Lâm - Kiểm sát viên.

Vào ngày 30/8/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 632/2022/TLST-HNGĐ, ngày 22 tháng 7 năm 2022, về việc: Tranh chấp ly hôn, con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/8/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hoàng Lan Th, sinh năm 1994

Địa chỉ: Số X đường D, phường C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

- Bị đơn: Ông Lâm Quốc S, sinh năm 1989

Địa chỉ: Số X đường D, phường C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk .

Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đ thuộc huyện M, tỉnh Đắk Lắk.

(Các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, lời trình bày của đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Nguyên đơn - Bà Nguyễn Hoàng Lan Th trình bày:

Tôi là Nguyễn Hoàng Lan Th và anh Lâm Quốc S chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào năm 2015. Sau khi kết hôn một thời gian cuộc sống gia đình hạnh phúc, chúng tôi đã có con chung là: Cháu Lâm Vinh Ph, sinh ngày 25/10/2016 và cháu Lâm Đại Ph, sinh ngày 10/5/2019.

Tuy nhiên đến những năm gần đây, do bất đồng quan điểm sống trong gia đình nên giữa chúng tôi phát sinh nhiều mâu thuẫn căng thẳng trong cuộc sống hôn nhân gia đình, làm tình cảm vợ chồng mất dần đi. Anh S không có trách nhiệm với gia đình, vợ con và còn chơi bời, sa vào tệ nạn xã hội. Tôi và gia đình nhiều lần nhắc nhở và cố gắng để đoàn tụ, xây dựng gia đình. Tuy nhiên mẫu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay anh S đã phạm tội và đang phải chấp hành án tại Trại giam Đ - Xã E, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Sau nhiều thời gian suy nghĩ nay tôi làm đơn này yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Lâm Quốc S

Về con chung: Tôi có nguyện vọng sau khi ly hôn tôi được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là: Cháu Lâm Vinh Ph, sinh ngày 25/10/2016, cháu Lâm Đại Ph, sinh ngày 10/5/2019 đến khi 02 cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn - Ông Lâm Quốc S tại đơn trình bày và xin vắng mặt có ý kiến như sau:

Tôi (Lâm Quốc S) và cô Nguyễn Hoàng Lan Th chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố B vào năm 2015. Quá trình chung sống vợ chồng, thời gian đầu hạnh phúc, chúng tôi đã có con chung là: Cháu Lâm Vinh Ph, sinh ngày 25/10/2016; Cháu Lâm Đại Ph, sinh ngày 10/5/2019.

Tuy nhiên đến những năm gần đây, do bất đồng quan điểm sống trong gia đình nên giữa chúng tôi phát sinh mâu thuẫn, làm tình cảm vợ chồng mất dần đi, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện tôi đang phải chấp hành án tại Trại giam Đ - Xã E, huyện M, tỉnh Đắk Lắk do đã có hành vi vi phạm pháp luật.

Nay vợ tôi là cô Nguyễn Hoàng Lan Th tự làm đơn gửi đến Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột yêu cầu giải quyết ly hôn, nuôi con thì tôi cũng đồng ý để Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột thụ lý, giải quyết, xét xử; Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phân tích cho vợ tôi để đoàn tụ; Nếu không được, vợ tôi cương quyết ly hôn thì tôi đồng ý giải quyết ly hôn, nuôi con theo yêu cầu của cô Th.

Về tài sản chung, nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột phát biểu quan điểm:

Sau khi phân tích tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Nguyễn Hoàng Lan Th về ly hôn; Về hôn nhân: Bà Nguyễn Hoàng Lan Th được ly hôn với ông Lâm Quốc S.

Về con chung: Giao hai con chung là Lâm Vinh Ph, sinh ngày 25/10/2016 và Lâm Đại Ph, sinh ngày 10/5/2019 cho bà Nguyễn Hoàng Lan Th trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên. Ông Lâm Quốc S có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để giải quyết.

Về án phí: Các đương sự chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả thẩm tra công khai các tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ hồ sơ vụ án, căn cứ đơn khởi kiện của bà Nguyễn Hoàng Lan Th thì nội dung tranh chấp về hôn nhân và gia đình, về việc ly hôn, nuôi con chung, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng Lan Th và bị đơn ông Lâm Quốc S đều có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đảm bảo đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Hoàng Lan Th và ông Lâm Quốc S tự nguyện chung sống với nhau và có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố B vào năm 2015. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không hòa hợp trong cuộc sống gia đình. Từ năm 2020 đến nay ông Lâm Quốc S phải chấp hành án tại Trại giam Đ - Xã E, huyện M, tỉnh Đắk Lắk; Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Hoàng Lan Th cương quyết ly hôn và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Ông Lâm Quốc S có ý kiến trong trường hợp bà Th cương quyết ly hôn thì ông đồng ý giải quyết ly hôn, nuôi con theo yêu cầu của bà Th.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Nguyễn Hoàng Lan Th và ông Lâm Quốc S đã ở mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được do đó bà Th yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với ông S là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Nguyễn Hoàng Lan Th và ông Lâm Quốc S có 02 con chung là Lâm Vinh Ph, sinh ngày 25/10/2016 và Lâm Đại Ph, sinh ngày 10/5/2019. Quá trình giải quyết vụ án, bà Th có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung; Hiện nay hai cháu đều đang ở cùng bà Th. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển ổn định về thể chất, tinh thần của cháu và xét nguyện vọng của bà Th là phù hợp, HĐXX thấy cần giao hai con chung cho bà Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Th không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để giải quyết.

Về án phí:

Bà Nguyễn Hoàng Lan Th phải nộp 300.000 đồng án phí đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 56; Điều 58; Điều 81; khoản 1, khoả n 3 Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

- Áp dụng: Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Bà Nguyễn Hoàng Lan Th về ly hôn, nuôi con chung;

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Hoàng Lan Th được ly hôn với ông Lâm Quốc S.

2. Về con chung: Giao 02 con chung là Lâm Vinh Ph, sinh ngày 25/10/2016 và Lâm Đại Ph, sinh ngày 10/5/2019 cho bà Nguyễn Hoàng Lan Th trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi;

Ông Lâm Quốc S có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Hoàng Lan Th phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về Hôn nhân và gia đình, được khấu trừ trong số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk theo biên lai thu số AA/2021/0019924 ngày 21/7/2022.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ