vanban.org

Bản án 142/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 08/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 03 (ba) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù tại bản án số 73/2021/HS-ST ngày 11/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Trộm cắp tài sản”, buộc bị cáo Nguyễn Văn Th phải chấp hàn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Th có hành vi gây thương tích cho Đoàn Phạm Nhật Tr - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 142/2021/HS-ST
Ngày: 08 - 12 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Phi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Gia và bà Nguyễn Thị Xuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Bằng – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 128/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2021/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Th, sinh năm 1999 tại Đồng Nai (có mặt)

Nơi cư trú: Tổ 5, khu 5, thị trấn T, huyện P, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1960 và bà Trần Kim T, sinh năm 1963; Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là thứ tư; chưa có vợ con.

Tiền án: Ngày 01/9/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản , chấp hành xong án phạt tù ngày 26/4/2018. (chưa nộp án phí và bồi thường dân sự)

Tiền sự: Ngày 01/7/2020 chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Nhân thân:

- Ngày 30/8/2016 bị Công an huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền 1.250.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe người khác (đã nộp phạt).

- Ngày 07/3/2019 bị Công an huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe người khác (chưa nộp phạt ).

- Ngày 26/01/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quyết định tại Bản án số 18/2021/HS-ST ngày 26/01/2021.

- Ngày 11/6/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với hình phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 18/2021/HS-ST ngày 26/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, buộc bị cáo Nguyễn Văn Th phải chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm 06 tháng tù theo quyết định tại bản án số 73/2021/HSST.

Bị cáo Th đang chấp hành án phạt tù tại Trại tạm giam công an tỉnh Đồng Nai (Trại tạm giam B5).

- Bị hại: Anh Đoàn Phạm Nhật Tr, sinh năm 1995 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 3, xã Phú Lộc, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Người làm chứng: Chị Trần Thị Nh Ý, sinh năm 1996 (vắng)

Địa chỉ: Tổ 16, khu 9, thị trấn Tân Phú, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Th và Trần Thị Nh Ý có mối quan hệ quen biết nhau. Khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 13/8/2020, Nguyễn Văn Th đi đến phòng trọ chị Ý thuê ở khu 5, thị trấn Tân Phú, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai thì gặp Đoàn Phạm Nhật Tr đang ở cùng với chị Ý. Tại phòng trọ của chị Ý, giữa Th, Tr và Ý có nói chuyện qua lại với nhau. Do có tình cảm với chị Ý nên trong khi nói chuyện, Th trọc ghẹo chị Ý và gây sự với Tr nên chị Ý đuổi Th về nhà ở tại tổ 5, khu 5, thị trấn Tân Phú huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Sau khi về nhà Th bực tức vì những lời nói của Tr và chị Ý, khoảng 05 giờ sáng ngày 14/8/2021, Th lấy một con dao tự chế dài khoảng 80cm ở trong nhà mình đi đến phòng trọ của chị Ý, khi đến nơi Th thấy Tr đang nằm ngủ trên võng với tư thế nằm ngửa tay trái để trên trán, Th dùng dao chém từ trên xuống người Tr (phần đầu, mặt và bụng), lúc này Tr giơ tay trái lên đỡ thì bị Th chém nhiều nhát vào tay trái gây thương tích, Th tiếp tục dùng dao kể cổ Tr đe dọa thì được chị Ý can ngăn còn anh Tr được đưa đi cấp cứu. Ngày 16/8/2020 anh Tr đến cơ quan Công an thị trấn Tân Phú tố cáo hành vi phạm tội của Th, ngày 17/8/2020 Th đến Công an thị trấn Tân Phú đầu thú và hành vi phạm tội của Th đã được làm rõ.

Về tang vật: Sau khi gây án Th mang dao về cất giấu ở nhà nhưng đã bị thất lạc nên không thu giữ được.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0275/TgT/2021 ngày 27/4/2021 của Trung tâm pháp y Sở y tế Đồng Nai kết luận thương tích của anh Đoàn Phạm Nhật Tr thể hiện:

1. Dấu hiện chính qua giám định:

- Tổn thương gãy xương bàn 5 bàn tay trái đã kết hợp xương (áp dụng Chương 7, mục 5.4.1). Tỷ lệ 06%;

- Tổn thương mất trọn đốt xa, đốt giữa và ½ xương đốt gần ngón 4 tay trái (áp dụng Chương 7, mục nguyên tắc chung và Chương 7, mục VI.5.4.6). Tỷ lệ 08%;

- Sẹo mặt sau trong 1/3 trên cẳng tay trái kích thước 04x0,2cm (áp dụng Chương 8, mục I.1). Tỷ lệ 01%;

- Sẹo mặt mu bàn tay trái kích thước 06x0,2cm (áp dụng Chương 8, mục I.2). Tỷ lệ 02%;

- Sẹo mặt lưng đốt 1 ngón 3 bàn tay trái kích thước 02x0,2cm (áp dụng Chương 8, mục VIII.1). Tỷ lệ 01%.

2. Kết Luận:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạm nhân Đoàn Phạm Nhật Tr, sinh năn 1995 áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư là 19% (mười chín phần trăm).

3. Kết luận khác:

- Vật gây thương tích: Vật sắc.

Cáo trạng số 115/CT-VKSTP-ĐN ngày 18/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Th về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Th. Trên cơ sở phân tích dấu hiệu phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự tuyên bố:

- Về tội danh: Bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th từ 03(ba) năm 06 (sáu) tháng tù đến 04 (bốn) năm tù.

- Về xử lý vật chứng: 01con dao tự chế dài khoảng 80cm là tang vật trong vụ án đã bị thất lạc, hiện cơ quan Điều tra công an huyện Tân Phú đã ra Thông báo truy tìm vật chứng, khi nào tìm thấy sẽ được xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Đoàn Phạm Nhật Tr yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền chi phí cho việc chữa trị thương tích 20.000.000đ và khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần 10.000.000đ. Tổng cộng bị cáo phải bồi thường số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội cố ý gây thương tích của bị cáo là đúng, tuy nhiên Cáo trạng ghi bị cáo chém nhiều lần là không đúng, khi bị cáo dùng dao chém xuống bụng của anh Tr thì trúng vào bàn tay của anh Tr. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên Tòa bị cáo không cung cấp thêm tài liệu nào khác. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Do có sự ghen tuông với anh Đoàn Phạm Nhật Tr, khoảng 05 giờ sáng ngày 14/8/2020, tại phòng trọ của chị Trần Thị Nh Ý thuộc khu 5, thị trấn Tân Phú, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Văn Th đã có hành vi dùng 01 con dao tự chế dài khoảng 80cm chém gây thương tích cho anh Tr với tỷ lệ thương tật 19%.

Hành vi của bị cáo Th đã thực hiện có đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội do cố ý, đây là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo ra đầu thú là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ quyết định hình phạt:

Bị cáo thực hiện hành vi gây thương tích với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người bị hại và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người đã có tiền án, tiền sự và có nhân thân xấu. Hiện tại bị cáo đang chấp hành án phạt tù tại Trại tạm giam công an tỉnh Đồng Nai (Trại tạm giam B5) theo quyết định tại bản án số 73/2021/HSST ngày 11/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú.

Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 01con dao tự chế dài khoảng 80cm là vật chứng trong vụ án đã bị thất lạc, hiện cơ quan Điều tra công an huyện Tân Phú đã ra Thông báo truy tìm vật chứng, khi nào tìm thấy sẽ được xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra anh Đoàn Phạm Nhật Tr yêu cầu bị cáo Th phải bồi thường số tiền 30.000.000đ. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Th chấp nhận bồi thường cho anh Tr số tiền 30.000.000đ. Việc chấp nhận bồi thường của bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh, điều luật, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như mức hình phạt đối với bị cáo Th là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm đ khoản 2, Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52, Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 03 (ba) năm tù.

Tổng hợp với hình phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù tại bản án số 73/2021/HS-ST ngày 11/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Trộm cắp tài sản”, buộc bị cáo Nguyễn Văn Th phải chấp hành hình phạt chung là 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 08/9/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015.

Bị cáo Nguyễn Văn Th phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Đoàn Phạm Nhật Tr số tiền 30.000.000đ (một trăm triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực, người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án chưa thi hành án thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

Tr hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Th phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 292; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo Nguyễn Văn Th có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ