vanban.org

Bản án 142/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội Tuyên án 03/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh Th phạm Tội cướp giật tài sản

Xử phạt: Nguyễn Mạnh Th 42 (bốn hai) tháng tù về tội Cướp giật tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2020. Về án phí:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mạnh Th - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh Th phạm Tội cướp giật tài sản
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2020/HSST
Ngày:03/6/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Vương Thúy Thìn

2. Bà Nguyễn Thị Huyền Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lài - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà - Kiểm sát viên

Hôm nay, ngày 03 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 159/2020/HSST ngày 20 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2020/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Mạnh Th sinh năm 1989; HKTT và chỗ ở: Tổ 10, phường T, quận L, thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; giới tính: Nam; Nghề nghiệp: tự do; Văn hóa: 5/12; Con ông: Vũ Văn T; Con bà: Nguyễn Thị Kim O ; Tiền án, tiền sự : không

Nhân thân:

- Ngày 09/02/2004, Công an phường N, quận L bắt và xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

- Ngày 26/8/2004, Công an phường T, quận L bắt và xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

- Ngày 13/9/2010, Công an phường T, quận C bắt và xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ, cất giấu trong người dao, bình xịt hơi cay nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng.

- Ngày 25/10/2010, UBND quận L áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục 12 tháng.

- Ngày 27/6/2006, Tòa án nhân dân quận L xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. (đã xóa)

- Ngày 18/10/2006, Tòa án nhân dân thành phố H xử phạt 03 năm tù về tội Cướp tài sản (đã xóa).

- Ngày 28/11/2013, Tòa án nhân dân quận L xử phạt 40 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản (đã xóa).

Danh chỉ bản số 136 ngày 13/01/2020, do Công an quận H lập. Bị bắt ngày 08/01/2020. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại giam số 2 Công an thành phố H

Có mặt tại phiên tòa

Người bị hại:

1. Chị Trần Thị Tr, sinh năm 1971

HKTT: Tổ 4, phường N, quận L, thành phố H

Vắng mặt tại phiên tòa

2. Chị Lê Thị Thu H, sinh năm 1959

HKTT: Tổ 4, phường N, quận L, thành phố H

Vắng mặt tại phiên tòa

Nội dung vụ án:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án quá trình điều tra, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 07/01/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L nhận đơn trình báo của chị Trần Thị Tr, sinh năm: 1971, trú tại: Tổ 4, phường N, quận L, thành phố H về việc ngày 05/01/2020 chị Thục bị cướp giật tài sản là 01 chiếc túi xách bên trong có 01 chiếc điện thoại Iphone 5C và 20.000 đồng tại khu vực đê Nguyễn Khoái, Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L đã tiến hành rà soát truy tìm tang vật tại khu vực Thượng Thanh, quận L, Hà Nội theo định vị Icoud thì phát hiện Dương Tử V (sinh năm: 1985, HKTT: Tổ 13 phường T, Quận L, Hà Nội) đang sử dụng 01 chiếc điện thoại Iphone 5C màu trắng có đặc điểm trùng khớp với chiếc điện thoại của chị Thục bị chiếm đoạt. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ vật chứng và đưa Vinh cùng tang vật về trụ sở làm rõ.

Tại cơ quan điều tra, Dương Tử V khai nhận chiếc điện thoại nêu trên là do Nguyễn Mạnh Th cho vào khoảng 6 giờ ngày 05/01/2020.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L đã triệu tập Nguyễn Mạnh Th đến trụ sở làm việc.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 6 giờ ngày 05/01/2020, Nguyễn Mạnh Th đi từ nhà đến khu vực đê Nguyễn Khoái, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội thì thấy chị Trần Thị Tr đi xe đạp có để túi xách ở giỏ xe đạp, Nguyễn Mạnh Th điều khiển xe mô tô Honda nhãn hiệu AirBlade BKS: 30P7-1156 áp sát bên trái chị Tr, dùng tay trái lấy chiếc túi trong giỏ xe và tăng ga bỏ chạy về hướng cầu Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Khi đến lối lên cầu Vĩnh Tuy, dừng xe kiểm tra túi xách thấy có 20.000 đồng, 01 chiếc điện thoại di động Iphone 5C, Th lấy tài sản rồi vứt bỏ chiếc túi và một đồ cá nhân ở lề đường. Khi về đến nhà, Th cho Dương Tử V chiếc điện thoại Iphone 5C, còn số tiền 20.000 đồng Th đã tiêu sài hết.

Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận L có công văn yêu cầu định giá tài sản. Ngày 8/01/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận : 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5C, đã qua sử dụng trị giá 800.000 đồng.

Ngoài vụ cướp giật nêu trên, khoảng gần 6 giờ ngày 30/12/2019, Nguyễn Mạnh Th đi đến khu đầu cầu Chương Dương, phường Phúc Tân, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội thì phát hiện chị Lê Thị Thu H đi xe đạp có để túi đồ ở trong giỏ xe, Th liền điều khiển xe mô tô Honda AirBlade BKS: 30P7-1156 áp sát bên trái chị H rồi dùng tay trái giật chiếc túi xách trên rồi tăng ga bỏ chạy về hướng cầu Long Biên. Khi đến đầu cầu Long Biên, Th kiểm tra túi xách thì phát hiện bên trong có 01 điện thoại Nokia 150 màu đen, Th lấy chiếc điện thoại và vứt chiếc túi xách trên đường và đi về nhà. Khi về, Th có cho Dương Tử V chiếc điện thoại trên.

Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận L có công văn yêu cầu định giá tài sản. Ngày 4/2/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận: 01 chiếc điện thoại Nokia 150, đã qua sử dụng trị giá 50.000 đồng.

Sau khi điều tra làm rõ, Cơ quan CSĐT – Công an quận Hai Bà Trưng đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả cho chị Trần Thị Tr chiếc điện thoại di động Iphone 5C ; trao trả cho chị Lê Thị Thu H chiếc điện thoại Nokia 150 màu đen. Sau khi nhận lại tài sản, chị Thục và chị H không yêu cầu gì về dân sự.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Mạnh Th còn khai nhận: Khoảng 5 giờ giữa tháng 12/2019, Th sử dụng 01 xe mô tô Honda AirBlade BKS: 30P7-1156 đến khu vực đường Nguyễn Văn Linh, đối diện trường tiểu học Tân Mai, Phúc Đồng, quận L, Hà Nội thì phát hiện 01 phụ nữ điều khiển xe đạp có để túi xách ở giỏ xe. Th điều khiển xe máy áp sát bên trái người phụ nữ, dùng tay trái giật chiếc túi xách rồi tăng ga bỏ chạy. Khi đến đường Lưu Khánh Đàm, phường Giang Biên, Th kiểm tra túi xách có 01 điện thoại di động Nokia. Th lấy chiếc điện thoại trên đút vào túi quần rồi vứt chiếc túi xách lên vỉa hè rồi trở về nhà. Sau đó, Th đã làm mất chiếc điện thoại trên. Hiện chưa xác định được bị hại. Cơ quan công an đã đăng báo truy tìm bị hại, tuy nhiên hiện chưa thu hồi được vật chứng, chưa làm rõ được bị hại. Do vậy, ngày 4/5/2020 cơ quan CSĐT – Công an quận Hai Bà Trưng đã tách tài liệu liên quan để xử lý sau.

Đối với Dương Tử V không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của Th nên Cơ quan CSĐT – Công an quận Hai Bà Trưng không có đặt vấn đề xử lý.

Đối với chiếc mô tô Honda nhãn hiệu AirBlade BKS: 30P7-1156, số khung 804702, số máy 5413501, Th khai nhờ bạn mua hộ. Quá trình xác minh chủ sở hữu là của anh Nguyễn Vi M. Anh M khai năm 2009, anh mua chiếc xe mô tô Honda nhãn hiệu AirBlade BKS: 30Y2-5914, số khung 804702, số máy 5413501. Ngày 12/5/2019, anh M cho con gái là Nguyễn Vi Thị T Thủy mượn xe đi vào bệnh viện Hà Đông thì bị mất trộm. Đối với chiếc BKS 30P7-1156, quá trình điều tra xác minh chiếc biển trên đăng ký chủ xe là anh Trần Phi H. Năm 2010, anh H cho bạn mượn xe và đã bị mất. Do vậy, ngày 27/2/2020, cơ quan CSĐT – Công an quận L đã chuyển chiếc xe mô tô Honda nhãn hiệu AirBlade lắp biển kiểm soát: 30P7-1156 cùng tài liệu liên quan đến cơ quan CSĐT – Công an quận Hà Đồng để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản cáo trạng số 158/CT-VKS-HBT ngày 19/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Mạnh Th về Tội Cướp giật tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 171 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo và vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt Nguyễn Mạnh Th từ 42 đến 48 tháng tù.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Những người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có đầy đủ lời khai và đã nhận lại tài sản, không yêu cầu về phần dân sự.

Nhận định của Hội đồng xét xử:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 6 giờ ngày 5/01/2020, 30/12/2019 tại khu vực đê Nguyễn Khoái, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Nguyễn Mạnh Th có hành vi Cướp giật tài sản 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5C, trị giá 800.000 đồng của chị Trần Thị Tr và cướp giật tài sản 01 điện thoại Nokia trị giá 500.000 đồng của chị Lê Thị Thu H.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, tài sản của người khác, xâm phạm quyền tự do thân thể của người khác được pháp luật bảo vệ. Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng truy tố Nguyễn Mạnh Th về Tội Cướp giật tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 171 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo Nguyễn Mạnh Th phạm tội nhiều lần theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi năm 2017 quy định người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Trần Thị Tr và chị Lê Thị Thu H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì nên Tòa không xem xét.

Về xử lý vật chứng: không

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, những người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Quyết định

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh Th phạm Tội cướp giật tài sản

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017.

Xử phạt: Nguyễn Mạnh Th 42 (bốn hai) tháng tù về tội Cướp giật tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2020.

Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh Th phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Áp dụng các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015:

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kề từ ngày tuyên án.

Những người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

TM.Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ