vanban.org

Bản án 142/2020/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Định Tuyên án 25/11/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/11/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Trọng D 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về án phí: Bị cáo Phạm Trọng D phải chịu 200.000đ án phí HSPT. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Trọng D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
T NH BÌNH ĐỊNH
[

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2020/HS-PT
Ngày: 25.11.2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Tuấn; Bà Đỗ Thị Thắm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Hồng Vỹ - Thư ký TAND tỉnh Bình Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Văn Phụng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 112/2020/TLPT-HS ngày 20 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo Phạm Trọng D do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2020/HS-ST ngày 20 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện P.

- Bị cáo có kháng cáo:

Phạm Trọng D, sinh năm 1989 tại S, Hà Tĩnh; nơi cư trú: Xã X, huyện Y, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; con ông D (chết) và bà T, sinh năm1967; vợ, con: Chưa có; tiền án: có 03 tiền án: Ngày 17/6/2013 Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Bình tuyên phạt 15 tháng tù về “tội trộm cắp tài sản”, theo bản án số 30/2013/HSST; ngày 07/01/2015 Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đồng Nai tuyên phạt 10 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, theo bản án số 02/2020/HSST; ngày 09/4/2016 Tòa án nhân dân Q X, thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, theo bản án số 49/2016/HSST; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam trong một vụ án khác, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 16/12/2019, Phạm Trọng D cùng với một đối tượng tên H (không rõ nhân thân, lai lịch) đi xe mô tô hiệu Sirius của H đến xã M, huyện P, tỉnh Bình Định. D và H thấy xe mô tô Exciter 77D1-270.20 của Hu, trên xe có gắn chìa khóa dựng trước tiệm sửa xe. H rủ D vào lấy trộm thì D đồng ý. H đứng ngoài cảnh giới còn D vào lấy trộm xe.

Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: 01 xe mô tô biển số 77D1-270.20 có giá trị 24.000.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 34/2020/HS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện P đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Trọng D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Trọng D 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

- Ngày 28.9.2020, bị cáo Phạm Trọng D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đề nghị quan điểm giải quyết vụ án: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó HĐXX có đủ căn cứ để xác định vụ án như sau:

Bị cáo Phạm Trọng D đã có hành vi lén lút trộm cắp xe mô tô Exciter 77D1-270.20 của Hu trị giá 24.000.000đ. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên chấp nhận. Xét kháng cáo của bị cáo, HĐXX thấy rằng:

Cấp sơ thẩm đã xem xét toàn bộ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; căn cứ vào tình tiết định khung hình phạt; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo 4 năm tù là phù hợp với các quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, không có tình tiết giảm nhẹ mới; do đó không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị giữ nguyên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

- Xử phạt: Bị cáo Phạm Trọng D 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí: Bị cáo Phạm Trọng D phải chịu 200.000đ án phí HSPT.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ