- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Minh T - phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (điều 290 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Lương Minh T; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 264/2019/HSST ngày 28/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về phần hình phạt đối với bị cáo T như sau:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 290 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 142/2020/HS-PT Ngày: 08/05/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn;
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Phương Hạnh;
Ông Phùng Hải Hiệp.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Minh Tùng, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Ông Vũ Văn Biểu - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 08 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 823/2019/TLPT-HS ngày 15 tháng 10 năm 2019 do có kháng cáo của bị cáo Lương Minh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 264/2019/HSST ngày 28/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lương Minh T, sinh năm 1977; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: phường Q, quận H, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Con ông Lương Văn T, sinh năm 1942; Con bà Vương Thị Tuyết M, sinh năm 1953; Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ 2; Vợ là Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1980; Bị cáo có 01 con sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2001, 2003 bị đưa vào Cơ sở giáo dục; Năm 2007 bị đưa đi cai nghiện bắt buộc. Ngày 30/6/2014, Toà án nhân dân quận H, Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại khoản 1, Điều 194 Bộ luật hình sự. Ngày 02/02/2016, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: NBC, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ đầu năm 2010 đến tháng 4/2012, Lương Minh T tham gia vào các diễn đàn trên mạng Internet như ‘hkv.com’, ‘vnw.cc’, ‘beyeugroup.com’, ‘Vefamily’ ... để tìm hiểu cách mua hàng qua mạng bằng thông tin thẻ tín dụng của người nước ngoài bị trộm cắp (gọi là “CC Chùa”). T mua các thông tin này từ các thành viên trên diễn đàn Internet để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người nước ngoài. Nhằm thực hiện ý định trên, T trực tiếp vào mạng Internet sử dụng thông tin thẻ tín dụng của người nước ngoài bị trộm cắp, rút tiền trong tài khoản của họ để mua hàng hóa từ các trang Web bán hàng trực tuyến rồi thuê người nhận hàng tại nước ngoài và thông qua các công ty chuyển phát nhanh Quốc tế hoặc qua đường xách tay gửi hàng về Việt Nam bán để hưởng lợi bất chính. Cụ thể:
Từ khoảng tháng 5/2010, T tham gia vào các diễn đàn ‘hkv.com’, ‘vnw.cc’ với tên đăng nhập (nick name) ‘dessanger07’ và tìm hiểu cách sử dụng thông tin thẻ tín dụng bị đánh cắp để mua hàng trực tuyến rồi chuyển về Việt Nam. Đến năm 2011, T làm quen trên mạng với những người có tên trên mạng là ‘vip cute’, ‘[email protected]’ và được cho hộp thư điện tử ‘[email protected]’ dùng để gửi, nhận thông tin khi thực hiện hành vi mua hàng. Trong hộp thư đó có danh sách của những người dùng thông tin thẻ tín dụng của người khác để mua hàng, những người bán “CC Chùa” và liên hệ để mua “CC chùa”.
Cũng trong thời gian này, T đăng tin tìm người có khả năng sử dụng thông tin thẻ tín dụng của người nước ngoài để mua hàng hóa trên mạng và vào trang Web ‘hoisinhvien.com’ nên đã làm quen với người có tên là Nguyễn Quỳnh T1 (còn có những tên gọi khác như: Tamin T1, Jame T1, Julie...). T và T1 thỏa thuận: T sử dụng các thông tin thẻ tín dụng của người nước ngoài để mua hàng tại các trang bán hàng trực tuyến rồi chuyển về địa chỉ của T1 tại Australia (Úc) là: Unit No 18 gray Street, Adelaide, SA 5000, Australia; 2 York Street Brighton, VIC 3186 Australia và 4/20 launder st, HAWTHORN, VIC 3122 Australia; 76 elizabeth st Richmond, 3121 VIC, Australia; Unit 2 Add 69-71 Butler St, RICHMOND, VIC 3121, Australia. T1 có trách nhiệm chuyển hàng về Việt Nam để T bán, tiền thu lợi sẽ chia nhau 50% giá trị hàng bán được. Nếu T thuê người khác mua hàng, hoặc mua được hàng có giá trị lớn thì chia nhau 30% giá trị hàng. Nếu mua được các mặt hàng như điện thoại Iphone hoặc các sản phẩm của hãng Apple thì T1 bán tại Úc và chuyển tiền cho T qua tài khoản LR: U2370123 hoặc qua tài khoản PP (Paypal): [email protected] (các tài khoản tiền trên đều là tài khoản tiền ảo trên mạng). Nếu T1 trực tiếp mua hàng rồi gửi về Việt Nam cho T nhận hàng và bán cho T1 thì T được hưởng 15% giá trị hàng bán được.
Trong năm 2012, Lương Minh T đã trực tiếp sử dụng thông tin trong thẻ tín dụng của người nước ngoài để mua các hàng hóa trên các trang web bán hàng trực tuyến tại nước ngoài và thanh toán bằng tiền trong tài khoản của họ như sau:
Vụ thứ 1: Ngày 02/01/2012, T vào trang web Bodybuilding.com mua 02 hộp sữa socola theo đơn hàng số 1158959957, với giá 178,82 AUD (đô la Úc) tương đương 3.803.165 đồng và sử dụng thông tin của thẻ tín dụng mang tên Marlon Brooy, địa chỉ tại số 34 lan St, Noble Park, Australia) để thanh toán và để gửi hàng về Việt Nam cho T theo địa chỉ: Lương Minh T - 12/16, H, Đ, Hà Nội. T khai chưa nhận được số hàng trên.
Vụ thứ 2: Ngày 03/01/2012, T vào trang web Vitacost.com mua 02 hộp sữa Whey Chocolate theo đơn hàng số 100089828, với giá 196,10 USD (đô la Mỹ) tương đương 4.210.874 đồng, sử dụng thẻ tín dụng của Peter Spelman, địa chỉ tại số 11611, San Vicente Blvd, Los Angeles, CA 90049-5106, United State để thanh toán và gửi hàng về Việt Nam cho T theo địa chỉ: H - 186, H, H, Hà Nội.
Vụ thứ 3: Ngày 05/01/2012, T mua 03 hộp sữa Omega3 và 02 hộp sữa socola theo đơn hàng số 1159562627, với giá 220,80 AUD (đô la úc) tương đương 4.772.090 đồng và sử dụng thông tin của thẻ tín dụng tên Jeff Arnold, địa chỉ tại Shawnee KS, USA để thanh toán và gửi thẳng hàng về Việt Nam cho T theo địa chỉ: T - 62, C, Đ, Hà Nội. T khai chưa nhận được số hàng trên.
Vụ thứ 4: Ngày 10/01/2012, T vào trang web Bodybuilding.com mua 01 hộp sữa Whey 10 Lbs, 01 hộp loại 5,15 Lbs theo số đơn hàng số 600703810, với giá 212,10 AUD (đô la úc) tương đương 4.554.236 đồng và sử dụng thông tin của thẻ tín dụng mang tên Ellen Hanson, địa chỉ tại số 02, Yorl Street Brighton, VIC 3186, Australia) để thanh toán và gửi thẳng hàng về Việt Nam cho T theo địa chỉ: Lương T - 276, C, Đ, Hà Nội. T khai chưa nhận được số hàng trên.
Vụ thứ 5: Ngày 24/02/2012, T vào trang bán hàng trực tuyến dicksmith.com.au, sử dụng hộp thư điện tử [email protected] mua 01 máy nghe nhạc Ipod Touch 32GB, theo đơn đặt hàng (oder) số 1202241338297, với giá 309 AUD (đô la Úc), tương đương 6.811.972 đồng. T sử dụng thông tin của thẻ tín dụng tên: Jamse W McDonald, địa chỉ tại số 28 Jarrett Street, Toronto NSW 2283, Australia để thanh toán và gửi về địa chỉ người nhận hàng của Nguyễn Quỳnh T1 lấy tên là Jame T1, địa chỉ tại số 18, gray Street Unit 18, Adelaide, South Australia 5000, Australia. Ngày 28/4/2012, T1 đã nhận được chiếc Ipod trên và thông qua dịch vụ chuyển phát nhanh EMS gửi về Việt Nam cho T. Ngày 07/5/2012, Cơ quan Công an đã thu giữ chiếc máy Ipod trên tại Sân bay N.
Vụ thứ 6: Ngày 28/3/2012, T vào trang Web Fishpond.com.au, sử dụng hộp thư điện tử [email protected], mua 01 hộp sữa Similac theo đơn đặt hàng số 77632492, với giá 43,89 AUD (đô la Úc), tương đương 942.493 đồng và thanh toán bằng credit Card mang tên Amanda Cuyler, Visa-xxxxxxxxxxxx8544. T gửi về địa chỉ người nhận hàng của Nguyễn Quỳnh T1 lấy tên là T1 Nguyen, địa chỉ tại số 76, elizabeth st Richmond, 3121 VIC, Australia. T1 nhận hộp sữa trên và thông qua dịch vụ chuyển phát nhanh EMS gửi về Việt Nam cho T. Ngày 07/5/2012, Cơ quan Công an đã thu giữ hộp sữa trên tại Sân bay N.
Vụ thứ 7: Ngày 30/3/2012, T vào trang Web OKme.com.au, sử dụng hộp thư điện tử [email protected], mua 05 hộp sữa Ensure 900gam theo đơn đặt hàng số 100089714, với giá 146,95 AUD (đô la Úc), tương đương 3.136.865 đồng và thanh toán trực tiếp bằng thông tin thẻ tín dụng Visa Card, số xxxx-4361, mang tên Ron Johnson, địa chỉ tại số 19, Mansford St, Toowoomba, Queensland, 4350 Australia. T gửi về địa chỉ người nhận hàng của Nguyễn Quỳnh T1 lấy tên là T1 NgQuynh, địa chỉ tại Unit 2, 69-71, Butler St, RICHMOND, VIC 3121, Australia, theo vận đơn số FGD1090073 của hãng Australia Post eParcel. Sau khi nhận được hàng, T1 thông qua dịch vụ chuyển phát nhanh EMS gửi về Việt Nam cho T. Ngày 07/5/2012, Cơ quan Công an đã thu giữ số hộp sữa trên tại Sân bay N.
Vụ thứ 8: Ngày 30/3/2012, T vào trang Web: Bodybuiding.com, sử dụng hộp thư điện tử [email protected], mua 01 hộp sữa Whey 10 Lbs, 01 hộp sữa Mass Strawberry 6 Lbs, 01 hộp Mocha Cappuccino 2 Lbs, với giá: 274 AUD (đô la Úc) tương đương 5.848.935 đồng và sử dụng thông tin của thẻ tín dụng tên Mattew Minter, địa chỉ tại số 17, Corella Rd Manilla, Australia để thanh toán. T gửi về địa chỉ người nhận hàng lấy tên là M, 26, V, T, 100000, TH.
Vụ thứ 9: Ngày 31/3/2012, T vào trang Web bigw.com.au, sử dụng hộp thư điện tử [email protected], mua 01 sách điện tử Kindle Touch Wifi, theo đơn đặt hàng số 5629366, với giá 185 AUD (đô la Úc), tương đương 3.949.098 đồng và thanh toán bằng thông tin của thẻ tín dụng tên Melissa Bright, địa chỉ tại số 69, Tramway Drive Currans Hill NSW 2567, Australia. T gửi về địa chỉ người nhận hàng của Nguyễn Quỳnh T1 lấy tên là T2, địa chỉ tại số 4/20 launder st, HAWTHORN, VIC 3122 Australia. Ngày 03/4/2012, sách điện tử đã được chuyển cho T1 theo vận đơn số WOW1363043 của auspost.com.au và sau đó T1 đã gửi về Việt Nam cho T thông qua dịch vụ chuyển phát nhanh EMS.
Vụ thứ 10: Ngày 31/3/2012, T vào trang Web Okme.com.au, lấy tên là Jeremy Hughes (hộp thư điện tử [email protected]) mua 05 hộp sữa Ensure 900g với giá 146.95 AUD (đô la Úc) tương đương 3.136.865 đồng, theo đơn đặt hàng số 100089828, thanh toán bằng thẻ Visa số xxxx-5357 mang tên Jeremy c Hughes và gửi về địa chỉ T1 nguyen, Ricmond home, 76 Elizabeth st, richmond, Victoria, 3121 Australia.
Vụ thứ 11: Ngày 2/4/2012, T vào trang Web Okme.com.au, lấy tên là Matthew Minter (hộp thư điện tử [email protected]) mua 05 hộp sữa S26 Gold 900g với giá 151.95 AUD (đô la Úc) tương đương 3.243.597 đồng, theo đơn đặt hàng số 100090158, thanh toán bằng thẻ Visa số xxxx-9382 mang tên Matthew Minter và gửi về địa chỉ NgQuynh T1, Ricmond address, 76 Elizabeth st, richmond, Victoria, 3121 Australia.
Vụ thứ 12: Ngày 20/4/2012, T vào trang Web OKme.com.au, sử dụng hộp thư điện tử [email protected], mua 05 hộp sữa Pediasure Powder Vanilla 900g, theo đơn đặt hàng số 100092032, với giá 166,95 AUD (đô la Úc), tương đương 3.548.333 đồng và thanh toán trực tiếp bằng thông tin thẻ tín dụng Master Card, số xxxx-2099, mang tên Yasmin Chrzescijanski (hoặc Stephanie Monteith, địa chỉ tại số 02, Dicbble Ave Marrickville, New South Wales, 2204 Australia. T gửi về địa chỉ người nhận hàng của Nguyễn Quỳnh T1 lấy tên là Nguyen T1, địa chỉ tại số 76, elizabeth st Richmond, 3121 VIC, Australia theo vận đơn số FGD1090073 của hãng Australia Post eParcel. Sau khi nhận được hàng, T1 gửi về Việt Nam cho T thông qua dịch vụ chuyển phát nhanh EMS. Ngày 07/5/2012 Cơ quan Công an đã thu giữ số hộp sữa trên tại Sân bay N.
Ngoài việc trực tiếp sử dụng tiền trong thẻ tín dụng của người nước ngoài để mua hàng hóa trên mạng Internet, T còn sử dụng thông tin trong thẻ tín dụng của người nước ngoài dể tạo lập tài khoản Paypal (một loại tài khoản tiền ảo dùng để thanh toán trong mua bán trực tuyến). T vào các diễn đàn mua tiền Paypal với giá bằng khoảng 40% để nạp vào các tài khoản này. Sau đó T vào các trang web bán bàng trực tuyến đặt mua hàng và thanh toán bằng các tài khoản Paypal này. Trong năm 2012, T đã thực hiện các hành vi phạm tội như sau:
Vụ thứ 13: Ngày 01/01/2012, T vào trang Web Crazysales.com.au mua 01 ống kính máy ảnh Canon EF 50mm theo đơn hàng số 28330330, với giá 352,36 AUD (đô la úc) tương đương 7.494.034 đồng, thanh toán bằng tài khoản PayPal mang tên Gordon McManus, địa chỉ tại số 433, Mt Mellim rd Landsborough, Queensland 4550, Australia và gửi về địa chỉ của T1 lấy tên là Brian Q. T1, địa chỉ tại Gift to honey 18 gray Street, Adelaide, SA 5000 Australia. T1 đã nhận được hàng và gửi về Việt Nam cho T. Chiếc ống kính này đã bị Cơ quan Công an thu giữ ngày 07/5/2012 tại sân bay N.
Vụ thứ 14: Ngày 03/02/2012, T vào trang Web Crazysales.com.au mua 01 điện thoại Iphone 4S 32GB theo số đơn hàng: 29068079, với giá: 955,54 AUD (đô la Úc) tương đương 21.087.439 đồng, thanh toán bằng tài khoản PayPal mang tên Carl Bardney (Địa chỉ: 18 Montpelier Street Exeter, South Australia 5000, Australia) và gửi về địa chỉ của T1 lấy tên là QT1 Hoy, địa chỉ: Products gift to 18 gray Street, Adelaide, SA 5000 Australia. T1 đã nhận được hàng và gửi về Việt Nam cho T.
Vụ thứ 15: Ngày 09/02/2012, T vào trang Web Crazysales.com.au mua 01 ống kính máy ảnh Canon EF 70 - 200mm theo số đơn hàng số 29185790, với giá 1.259,30 AUD (đô la Úc) tương đương 28.059.647 đồng, thanh toán bằng tài khoản PayPal mang tên MD R ISLAM, địa chỉ tại số 90, Bardia Parade Holsworthy, New South Wales 2173, Australia và gửi về địa chỉ của T1 lấy tên là Jackie Le, địa chỉ tại số 08, Church Street, Abbotsford, Vic 3067 Australia. T1 đã nhận được hàng và gửi về Việt Nam cho T.
Vụ thứ 16: Ngày 10/2/2012, T vào trang Web Crazysales.com.au mua 01 máy ảnh Canon IXUS theo đơn hàng số 29200151, với giá 362,13 AUD (đô la Úc) tương đương 7.964.734 đồng, thanh toán bằng tài khoản PayPal mang tên Johanne Lockyer, địa chỉ tại số 53, Hampton Street South Goodwood, South Australia 5034, Australia và gửi về địa chỉ của T1 lấy tên là Tamin T1, địa chỉ tại Unit 18, gray Street, Adelaide, SA 5000 Australia. T1 đã nhận được hàng và gửi về Việt Nam cho T.
Vụ thứ 17: Ngày 10/02/2012, T vào trang Web Crazysales.com.au mua 01 máy tính bảng Ipad 2 64GB theo đơn hàng số 29199478, với giá 925,54 AUD (đô la Úc) tương đương 20.356.447 đồng, thanh toán bằng tài khoản Paypal mang tên Brochowski, địa chỉ tại số 20A York Street Caulfield South, Victoria 3162, Australia và gửi về địa chỉ của T1 lấy tên là Julie T1, địa chỉ tại Herbert Road 18 gray street, Adelaide, SA 5000 Australia. T1 đã nhận được hàng và gửi về Việt Nam cho T.
Vụ thứ 18: Ngày 20/02/2012, T vào trang Web Crazysales.com.au mua 01 máy tính bảng Ipad 2 32GB theo đơn hàng số 29386653, với giá 645,54 AUD (đô la Úc) tương đương 14.320.207 đồng, thanh toán bằng tài khoản PayPal mang tên Janet Braid, địa chỉ tại số 21, Bourke Close Mt Sheridan, Queensland 4868, Australia và gửi về địa chỉ của T1 lấy tên là Jackie nT1, địa chỉ tại Adelaide, Home Unit 18, gray Street, Adelaide, SA 5000 Australia. T1 đã nhận được hàng và gửi về Việt Nam cho T.
Vụ thứ 19: Ngày 01/3/2012, T vào trang Web Crazysales.com.au, sử dụng hộp thư điện tử [email protected], mua 01 điện thoại Samsung Galaxy Si9003 theo đơn đặt hàng số 29579653, với giá 398,49 AUD (đô la Úc), tương đương 8.797.902 đồng, thanh toán bằng tài khoản PayPal mang tên Martin Zigon, địa chỉ tại số 41, Carter Crescent, Calwell, Australian Capital Territory 2905, Australia và gửi về địa chỉ người nhận hàng của Nguyễn Quỳnh T1 lấy tên là Julie lamin, địa chỉ tại Unit 5, 39-41 Walker Street, NORTHCOTE, VIC 3070 Australia. T1 đã nhận được chiếc điện thoại và gửi về Việt Nam cho T thông qua dịch vụ chuyển phát nhanh EMS. Ngày 07/5/2012, Cơ quan Công an đã thu giữ được chiếc điện thoại trên tại sân bay N.
Vụ thứ 20: Ngày 03/3/2012, T vào trang Web Crazysales.com.au, sử dụng hộp thư điện tử [email protected], mua 01 ống kính máy ảnh Canon EF28 - 135mm, theo đơn đặt hàng số 29604014, với giá 381,79 AUD tương đương 8.443.969 đồng, thanh toán bằng tài khoản PayPal mang tên Richard Shrapnel, địa chỉ tại số 05, Appleberry Close Knoxfield, Victoria 3180, Australia và gửi về địa chỉ người nhận hàng của Nguyễn Quỳnh T1 lấy tên là: T1 Quynh, địa chỉ U 5 39-41 Walker st, NORTHCOTE, VIC 3070 Australia. T1 đã nhận được hàng và thông qua dịch vụ chuyển phát nhanh EMS gửi về Việt Nam cho T. Ngày 07/5/2012, Cơ quan Công an đã thu giữ chiếc ống kính trên tại Sân bay N.
Vụ thứ 21: Ngày 03/3/2012, T vào trang web Centrecom.com.au mua 01 bộ linh kiện máy tính để bàn gồm 12Gb Ram, Chip Intel i7, tản nhiệt, Main Gigabyte theo đơn đặt hàng số 76491, với giá 701,35 AUD (đô la Úc) tương đương 15.511.610 đồng, thanh toán bằng tài khoản PayPal mang tên Richard Nguyen, địa chỉ tại Unit 5/39 - 41 Walker St Northcote, Victoria 3070, Australia) và gửi về địa chỉ của T1. T1 đã nhận được hàng rồi gửi về Việt Nam cho T. Ngày 07/5/2012, Cơ quan Công an đã thu giữ được thanh Ram trên.
Vụ thứ 22: Ngày 19/3/2012, T vào trang Web Crazysales.com.au mua 01 điện thoại Iphone 4S 32GB theo đơn hàng số 29915410, với giá 784,05 AUD (đô la Úc) tương đương 17.110.024 đồng, thanh toán bằng tài khoản PayPal mang tên Toni Penrose - Timms, địa chỉ tại số 24, Coolahra St Warana, Queensland 4575, Australia và gửi về địa chỉ của T1 lấy tên là Julie Tamin, tại Unit 5 39-41, Walker St Northcote, Victoria 3070, Australia. T1 đã nhận được hàng và gửi về Việt Nam cho T. Ngày 07/5/2012, Cơ quan Công an đã thu giữ được chiếc điện thoại tại sân bay N.
Vụ thứ 23: Ngày 27/3/2012, T vào trang Web Crazysales.com.au, sử dụng hộp thư điện tử [email protected], mua 01 ống kính máy ảnh Canon EF 50mm theo đơn đặt hàng số 30055453, với giá 375,03 AUD (đô la Úc), tương đương 8.130.289 đồng, thanh toán bằng tài khoản PayPal mang tên Janelie Unger, địa chỉ 571, Nukku Road Blackbutt, Quensland 4306, Australia và gửi về địa chỉ người nhận hàng của Nguyễn Quỳnh T1 lấy tên là Tamin T1, tại số 4/20, Launder St, HAWTHORN, VIC 3122 Australia. T1 đã nhận được hàng và thông qua dịch vụ chuyển phát nhanh EMS gửi về Việt Nam cho T. Chiếc ống kính này đã bị Cơ quan Công an thu giữ ngày 07/5/2012 tại sân bay N.
Vụ thứ 24: Ngày 28/3/2012, T vào trang Web Crazysales.com.au, sử dụng hộp thư điện tử [email protected], mua 01 điện thoại di động HTC EVO 3D theo đơn đặt hàng số 30098255, với giá 379,35 AUD (đô la Úc), tương đương 8.129.751 đồng, gửi về địa chỉ nguời nhận hàng của Nguyễn Quỳnh T1 lấy tên là T1 nguyen tại số 4/20 Launder St, HAWTHORN, VIC 3122 Australia và thanh toán qua dịch vụ thanh toán trực tuyến PayPal. T đã sử dụng thông tin của thẻ tín dụng tên Robert Ash, địa chỉ số 25, Bishop St Jolimont, Western Australia 6014, Australia). Ngày 31/3/2012, chiếc điện thoại đã được chuyển cho T1 và thông qua dịch vụ chuyển phát nhanh EMS gửi về Việt Nam cho T.
Vụ thứ 25: Ngày 29/3/2012, T vào trang Web Crazysales.com.au, sử dụng hộp thư điện tử [email protected], mua 01 điện thoại di động HTC EVO 3D, theo đơn đặt hàng số 30098339, với giá 379,35 AUD (đô la Úc), tương đương 8.084.532 đồng thanh toán bằng tài khoản PayPal mang tên Karen Carter địa chỉ số 113, Federation Way, Telegraph Pont, New South Wales 2441, Australia và gửi về địa chỉ người nhận hàng của Nguyễn Quỳnh T1 lấy tên là T1 nguyên, tại số U 2 69-71 Butler St, RICHMOND, VIC 3121, Australia. T1 đã nhận được hàng và thông qua dịch vụ chuyển phát nhanh EMS gửi về Việt Nam cho T. Ngày 07/5/2012, Cơ quan Công an đã thu giữ số hàng trên tại Sân bay N.
Vụ thứ 26: Ngày 30/3/2012, T vào trang Web Crazysales.com.au, sử dụng hộp thư điện tử [email protected], mua 01 máy ảnh Sony Cybershot DSC HX9 và 02 bóng đèn 100w 12V Super White Car Bulbs, theo đơn đặt hàng số 30118913, với tổng giá 383,21AUD (đô la Úc), tương đương 8.180.184 đồng, thanh toán bằng tài khoản PayPal mang tên Ron Johnson, địa chỉ tại số 19 Mansford St Toowoomba, Queensland 4350, Australia) và gửi về địa chỉ người nhận hàng của Nguyễn Quỳnh T1 lấy tên là NgQuynh T1, tại số 4/20 Launder St, HAWTHORN, VIC 3122 Australia. T1 đã nhận được hàng và thông qua dịch vụ chuyển phát nhanh EMS gửi về Việt Nam cho T. Ngày 07/5/2012, Cơ quan Công an đã thu giữ số hàng trên tại Sân bay N.
Vụ thứ 27: Ngày 16/4/2012, T vào trang Web Crazysales.com.au, sử dụng hộp thư điện tử [email protected], mua 02 khung ảnh điện tử 8”,theo các đơn đặt hàng số 30421614 và 30421598, với tổng giá là 305,12 AUD (đô la Úc), tương đương 6.490.000 đồng, thanh toán bằng tài khoản PayPal mang tên Andrea Green, địa chỉ tại số 139, Riverstone Commons CIR Canton, Ga 30114, United States và gửi về địa chỉ người nhận hàng của Nguyễn Quỳnh T1 lấy tên là T1 Quynh, tại Unit 2, Add 69-71 Butler St, RICHMOND, VIC 3121, Australia. T1 đã nhận được hàng và thông qua dịch vụ chuyển phát nhanh EMS gửi về Việt Nam cho T. Ngày 07/5/2012, Cơ quan Công an đã thu giữ được số hàng trên tại Sân bay N.
Vụ thứ 28: Ngày 20/4/2012, T vào trang Web Crazysales.com.au, sử dụng hộp thư điện tử [email protected], mua 01 chip máy tính Intel i7-2600 core i7 Processor 3,4GHz, theo đơn đặt hàng số 30515738, vói giá 341,53 AUD (đô la Úc), tương đương 7.258.834 đồng, thanh toán bằng tài khoản PayPal mang tên: Peter Pempeit, địa chỉ tại số 21, Wynfield Dr Highton, Victoria 3216, Australia và gửi về địa chỉ của T1 lấy tên là Quynh T1, tại địa chỉ Elizabeths home 76 Elizabeth st, Richmond, Vic 3121 Australia. T1 đã nhận được hàng và thông qua dịch vụ chuyển phát nhanh EMS gửi về Việt Nam cho T. Ngày 07/5/2012, Cơ quan Công an đã thu giữ được số hàng trên tại Sân bay N.
Vụ thứ 29: Ngày 01/5/2012, T vào trang Web Crazysales.com.au mua 01 chip máy tính Intel i7 - 2600k theo đơn hàng số 30712913, với giá 375,03 AUD (đô la Úc) tương đương 8.019.409 đồng, thanh toán bằng tài khoản PayPal mang tên Sally McColl, địa chỉ tại số 73, A Gull St Longreach, Queensland 4730, Australia và gửi về cho T1 lấy tên là Tamin Nguyen, tại địa chỉ Tamin home 076 Elizabeth st, Richmond, Vic 3121 Australia. T1 đã nhận được hàng nhưng chưa kịp gửi về Việt Nam cho T thì T bị bắt giữ.
Vụ thứ 30: Ngày 05/5/2012, T vào trang Web Crazysales.com.au mua 01 chip Intel i7 theo đơn hàng số 30773618, với giá 375,03 AUD (đô la Úc) tương đương 7.916.061 đồng, thanh toán bằng tài khoản PayPal mang tên Peter Jones, địa chỉ tại số 21, Burnett Wulguru, Queensland 4811, Australia và gửi về cho T1 lấy tên là TrQuynh Nguyen, tại địa chỉ Peter home 076 Elizabeth st, Richmond, Vic 3121 Australia. T1 đã nhận được hàng nhưng chưa kịp gửi về Việt Nam cho T thì T bị bắt giữ.
Tổng số tiền do T cùng T1 chiếm đoạt của các chủ thẻ tín dụng là: 259.313.796 đồng.
Trong giai đoạn điều tra vụ án, T bị mắc bệnh tâm thần nên được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 422 ngày 12/12/2018 của Viện pháp y tâm thần Trung Ương kết luận:
... Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội bị can Lương Minh T có hội chứng nghiện nhiều loại ma túy. Theo phân loại bệnh Quốc tế năm 1992 bệnh có mã số F 19.2.
Tại thời điểm giám định bị can có biểu hiện hội chứng nghiện nhiều loại ma túy hiện đang cai ở trong môi trường được bảo vệ. Theo phân loại bệnh Quốc tế năm 1992 bệnh có mã số F 19.21. Tại các thời điểm trên bị can có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Ngày 07/5/2012, Cục C50 - Bộ Công an đã thu giữ tại Sân bay N 02 thùng hàng do Nguyễn Quỳnh T1 chuyển về Việt Nam cho T gồm: 01 máy nghe nhạc (Vụ 5); 12 hộp Sữa bột các loại (Vụ 6, vụ 7 và vụ 12); 01 ống kính máy ảnh Canon (Vụ 20); 01 thanh ram máy tính Kingston - Hypep 12Gb (Vụ 21); 01 điện thoại di động Iphone 4S - 32GB (Vụ 22); 02 ống kính máy ảnh Canon (Vụ 13 và Vụ 23); 02 điện thoại di động (Vụ 25); 1 máy ảnh kỹ thuật số Sony và 02 bộ Bóng đèn HID (Vụ 26); 02 khung ảnh điện tử (Vụ 27); 01 bộ chip xử lý Intel Core 17 - 2700K 3.5Ghz 8MB XX Costarica (Vụ 28); 01 hộp Sữa bột Whey 2273 gram; 01 hộp Sữa bột Whey 4545 gram; 01 máy tính xách tay HP Folio 13
- 84713020 2000 TQ sản xuất; 05 sách điện tử Kindle Touch TQ 84709090 sản xuất; 01 điện thoại di động Iphone 3GS - 8GB và 01 cốc nhựa.
Lương Minh T đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra những đồ vật được sử dụng làm công cụ, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, gồm: 01 máy tính xách tay và 01 điện thoại di động đã qua sử dụng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 264/2019/HSST ngày 28/8/2019, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã áp dụng điểm a khoản 3 Điều 290; điểm b, g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015.
Xử phạt: Lương Minh T 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/9/2019, bị cáo Lương Minh T có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị hủy án sơ thẩm để điều tra lại vì bị cáo không chiếm đoạt tiền của ai; quá trình điều tra không xác định được bị hại.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T thay đổi nội dung kháng cáo. Theo đó, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và bị cáo xin giảm hình phạt với lý do: Nhận thức và hiểu biết pháp luật hạn chế nên khi thực hiện hành vi cũng như quá trình điều tra vụ án không biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật; hiện tại sức khỏe yếu do bị bệnh; Bị cáo đã nộp số tiền 130 triệu đồng để khắc phục hậu quả.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm về giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về phần hình phạt, giảm hình phạt cho bị cáo từ 02 đến 03 năm vì bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ mới là thành khẩn nhận tội, tích cực nộp tiền đã chiếm đoạt và sức khỏe yếu do bị bệnh, gia đình có công với cách mạng.
Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng: Quá trình điều tra, bị cáo vẫn thừa nhận có hành vi nhưng do nhận thức pháp luật nên không biết hành vi đó là có tội. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận có tội và thay đổi nội dung kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt với lý do: Đã nộp một phần tiền đã chiếm đoạt, gia đình bị cáo có công với cách mạng. Mặt khác, kết luận giám định bị cáo đang bị bệnh tâm thần nên sức khỏe yếu. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm đáng kể hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, trình bày của bị cáo và Luật sư.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về Tố tụng:
Quá trình điều tra vụ án đã thu giữ các hóa đơn mua hàng của bị cáo và đã được dịch thuật sang tiếng Việt theo đúng quy định. Những người bị hại đều là người nước ngoài nhưng quá trình điều tra không xác định được địa chỉ cụ thể nên cấp sơ thẩm đã căn cứ Thông tư liên tịch số 10/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BTT&TT-VKSNDTC-TANDTC để giải quyết vụ án là phù hợp quy định của pháp luật. Vì vậy, trong đơn kháng cáo, bị cáo cho rằng chưa có căn cứ buộc tội bị cáo vì các lý do nêu trên, từ đó đề nghị hủy án sơ thẩm để điều tra lại do vi phạm nghiêm trọng tố tụng là không có căn cứ.
. Về tội danh:
Ngay sau khi vụ án được phát hiện, Lương Minh T đã có nhiều bản tường trình, bản kiểm điểm và trong quá trình điều tra vụ án, T có nhiều lời khai về hành vi phạm tội phù hợp với tang vật đã thu giữ của bị cáo tại sân bay do đối tượng tên T1 gửi cho bị cáo. Lời khai của bị cáo còn phù hợp với lời khai của đối tượng có liên quan như Trần Huy T3. Do đó, có cơ sở xác định từ tháng 01 đến tháng 05/2012, T đã nhiều lần sử dụng thông tin thẻ tín dụng hoặc tài khoản Paypal của người nước ngoài để mua hàng hóa từ các trang Web bán hàng trực tuyến, thuê người nhận hàng tại nước ngoài gửi về Việt Nam bán thu lời bất chính. Tổng số tiền T đã chiếm đoạt được của 29 chủ thẻ tín dụng tài khoản Paypal của người nước ngoài là 259.313.796 đồng như cấp sơ thẩm đã quy kết là chính xác. Cấp sơ thẩm đã truy tố và xét xử bị cáo về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng tội, không oan. Do đó. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã thay đổi nội dung kháng cáo và chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
. Về áp dụng điều luật:
Căn cứ số lượng tiền bị cáo đã chiếm đoạt của các bị hại là 259.313.796 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm a khoản 3 Điều 290 của Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo là hoàn toàn chính xác.
. Về hình phạt:
Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo T, Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng tính chất nghiêm trọng của vụ án và mức độ nguy hiểm của hành vi do bị cáo thực hiện cũng như đánh giá nhân thân của bị cáo xấu, khai báo thiếu thành khẩn, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp để xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo là chính xác. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” là chính xác nhưng lại áp dụng cả tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là không đúng, bất lợi cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo nhận tội, đã nộp một phần tiền chiếm đoạt và tiền án phí hình sự sơ thẩm (130.200.000 đồng) để khắc phục hậu quả là thể hiện sự ăn năn hối cải của bị cáo. Mặt khác, theo Kết luận giám định pháp y tâm thần của Viện pháp y tâm thần Trung ương ngày 12/12/2018 thì: “Tại thời điểm giám định bị can có biểu hiện hội chứng nghiện nhiều loại ma túy hiện đang cai ở trong môi trường được bảo vệ. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F19.21”. Bị cáo bị bệnh Ba sedow đã phẫu thuật cắt bỏ một phần tuyến giáp. Vì vậy, hiện tại sức khỏe bị cáo hạn chế như bị cáo trình bày là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và Luật sư bào chữa cho bị cáo xuất trình các tài liệu xác định gia đình bị cáo có bố đẻ là Lương Văn T được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì. Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba. Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và áp dụng thêm Điều 54 Bộ Luật hình sự để giảm hình phạt và cho bị cáo được hưởng hình phạt dưới mức khởi điểm của khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định của pháp luật.
. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Lương Minh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị và phù hợp quy định của pháp luật nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Lương Minh T; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 264/2019/HSST ngày 28/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về phần hình phạt đối với bị cáo T như sau:
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 290; điểm b khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Lương Minh T 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Ghi nhận bị cáo Lương Minh T đã nộp 130.200.000 đồng (một trăm ba mươi triệu hai trăm nghìn đồng); trong đó: 130.000.000 đồng tiền phải truy nộp ngân sách Nhà nước và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, theo Biên lai thu tiền số 0007373 ngày 08/5/2020 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội (do Lương Thị Hồng L nộp thay Lương Minh T).
3. Về án phí: Bị cáo Lương Minh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - Cục THADS thành phố Hà Nội; - Cơ quan Cảnh sát điều tra - CA thành phố Hà Nội; - Bị cáo (theo địa chỉ); - Lưu HSVA, phòng HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Văn Sơn |