vanban.org

Bản án 142/2020/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” của bà Nguyễn Thị Hoàng K đối với ông Nguyễn Thành T. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hoàng K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình nhưng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hoàng K - Nguyễn Thành T"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 174 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2020/HNGĐ - ST
Ngày: 25-8-2020
V/v: “ Tranh chấp về thay đổi
người trực tiếp nuôi con sau ly
hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ba

Bà Lê Thị Ánh Sáng

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lý Kim Yến – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Tình – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 416/2020/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2020 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hoàng K, năm 1995

Địa chỉ: Số 6/6, Tổ 3, Khu K, thị trấn L, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1991

Địa chỉ, Số 4/1B, Tổ 5, khu K, thị trấn L, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

(Bà K và ông T có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 05/6/2020 và các lời khai tại hồ sơ, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoàng K trình bày:

Ngày 24/4/2020 bà và ông T ly hôn và đã được Tòa án nhân dân huyện Long Thành giải quyết cho ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 72/2020/QĐST-HNGĐ ngày 24/4/2020. Theo nội dung Quyết định trên, ông T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cháu Nguyễn Thành C, sinh ngày 16/12/2016 và bà K không phải cấp dưỡng nuôi con.

Từ ngày 24/4/2020, ông T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu C tốt cụ thể: Cháu C vẫn được đi học, được đảm bảo về sức khỏe, không bị đánh đập ngược đãi và phát triển bình thường về thể chất lẫn tinh thần. Ông T có công việc và mức thu nhập ổn định, không vi phạm đạo đức lối sống, đủ sức khỏe và điều kiện để nuôi dưỡng chăm sóc cháu C.

Tuy nhiên, do vào khoảng tháng 6/2020, ông T có hành vi ngăn cản không cho bà K rước cháu C nên hai bên có xảy ra xô xát. Việc xô xát không gây thương tích và bà có trình báo Công an thị trấn L nhưng chỉ trình bày sự việc bằng miệng nên Công an không lập biên bản. Ngoài ra, ông T không ngăn cản bà thăm gặp cháu C thêm lần nào khác.

Hiện nay, bà có thu nhập ổn định, mỗi tháng khoảng 20.000.000 đồng nên có đủ điều kiện chăm sóc nuôi con tốt. Do đó, bà K yêu cầu Tòa giải quyết giao con chung là cháu Nguyễn Thành C, sinh ngày 16/12/2016 cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

* Bị đơn ông Nguyễn Thành T trình bày:

Ông và bà K đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 72/2020/QĐST-HNGĐ ngày 24/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành. Theo Quyết định nêu trên, ông là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Thành C, sinh ngày 16/12/2016 và bà K không phải cấp dưỡng nuôi con.

Từ ngày 24/4/2020 đến nay, ông là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu C. Hiện cháu C phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Quá trình nuôi con, ông vẫn tạo điều kiện cho bà K rước con về nhà chăm sóc, ông không đánh đập ngược đãi cháu C và cũng không vi phạm đạo đức lối sống. Hiện ông có nhà ở, công việc và mức thu nhập ổn định nên có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con tốt.

Bà K khai ông ngăn cản không cho bà đến thăm con là không đúng, ông chỉ 01 lần không đồng ý cho bà K đưa cháu C đi du lịch vào ngày trong tuần vì lý do cháu phải đi học.

Nay bà K khởi kiện yêu cầu giao cháu Nguyễn Thành C, sinh ngày 16/12/2016 cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng và bà K không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con, ông không đồng ý.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của bà K; tiếp tục giao con chung là cháu Nguyễn Thành C, sinh ngày 16/12/2016 cho ông T nuôi dưỡng, ông T nuôi con không yêu cầu bà K cấp dưỡng nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoàng K:

Bà Nguyễn Thị Hoàng K và ông Nguyễn Thành T đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 72/2020/QĐST-HNGĐ ngày 24/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Bà K và ông T có 01 con chung là cháu Nguyễn Thành C, sinh ngày 16/12/2016. Sau khi ly hôn, ông T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu C, tạm thời bà K không cấp dưỡng nuôi con. Đến ngày 05/6/2020, bà K làm đơn yêu cầu Tòa án giao con cho bà nuôi dưỡng với lý do ông T ngăn cản thăm con và do hiện nay bà có thu nhập ổn định nên đủ điều kiện nuôi dưỡng cháu C.

Xét về điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thì cả bà K và ông T đều có công việc, thu nhập và nơi ở ổn định nên có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là tương đương nhau. Tại phiên tòa, bà K thừa nhận ông T hiện là người đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung, từ trước đến nay ông T rất yêu thương và quan tâm chăm sóc cháu C, ông T là người có trách nhiệm và chăm lo, nuôi dưỡng con chung tốt cả về vật chất, tinh thần cũng như điều kiện ăn ở, sinh hoạt, vui chơi giải trí và mọi mặt khác. Tuy nhiên, có lần bà đến thăm con ông T ngăn cản nên xảy ra việc tranh chấp nuôi con. Xét việc chăm sóc, thăm nom con chung sau ly hôn là quyền và nghĩa vụ của cả ông T và bà K đối với con chung sau ly hôn và đã được Tòa án ghi nhận trong quyết định công nhận thuận tình ly hôn. Trong trường hợp ông T nuôi con mà không cho bà K thăm nom con chung thì bà K có quyền đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật. Từ khi giao con chung cho ông T nuôi dưỡng đến nay, bà K cho rằng ông T ngăn cản việc bà đến thăm con nhưng bà K không cung cấp được chứng cứ để chứng minh nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét.

Tại biên bản xác minh ngày 13/7/2020 của Ủy ban nhân dân thị trấn L cung cấp nội dung thể hiện từ ngày 24/4/2020 đến nay địa phương không nhận được đơn khiếu nại tranh chấp gì về việc nuôi con chung giữa ông T với bà K.

Hiện nay, ông T đang nuôi dưỡng con tốt nên để đảm bảo sự ổn định cuộc sống và tâm lý của cháu C, cần tiếp tục giao con chung cho ông T nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Ông T nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp bà K khai bà có thu nhập cao hơn ông T thì bà K có quyền tự thỏa thuận việc cấp dưỡng nuôi con với ông T để đảm bảo điều kiện cuộc sống và học tập của cháu C tốt hơn.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà K về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hoàng K phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 174 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” của bà Nguyễn Thị Hoàng K đối với ông Nguyễn Thành T.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hoàng K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0001572 ngày 16 tháng 6 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành. Bà K đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ