- Tranh chấp gì? án hình sự — "đinh văn t - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Điểm b Khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 142/2018/HS-PT Ngày 28-8-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cảnh
Các Thẩm phán:
Ông Huỳnh Đức Kỳ
Ông Phan Vĩnh Chuyển
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Loan – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đãi Em - Kiểm sát viên.
Ngày 28/8/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 122/2018/TLPT-HS ngày 04/7/2018 đối với bị cáo Đinh Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2018/HS-ST ngày 31/5/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Bị cáo có kháng cáo:
Đinh Văn T, sinh ngày 25/5/1995 tại tỉnh Quảng Ngãi; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Không (Sinh viên); Dân tộc: K’Dong; Con ông Đinh Văn M (s) và bà Đinh Thị T (s); Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 26/4/2017, Đinh Văn T không có giấy phép lái xe theo quy định, nhưng T đã điều khiển xe mô tô BKS 77D1-102.34 loại trên 50 phân khối chở anh Nguyễn Công G đi trên đường Nguyễn Tất Thành theo hướng từ cầu Thuận Phước về quận Liên Chiểu với tốc độ 40km/h ở làn đường giữa dành cho xe mô tô và xe ô tô. Khi đến đoạn đường đối diện nhà số 501 Nguyễn Tất Thành thì thấy ông Phan C đi bộ qua ngang qua đường nơi không có vạch kẻ đường dành cho người bộ hành theo chiều từ phải qua trái so với chiều xe chạy của T (hướng từ biển vào) cách đầu xe khoảng 2-3m. Do T điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát, xử lý kém nên không thấy ông C băng qua đường, T không kịp xử lý dẫn đến tông vào ông C làm ông C ngã xuống đường bất tỉnh còn xe theo quán tính vẫn chạy về phía trước một đoạn rồi cả xe, T và G ngã xuống đường.
Hậu quả: Ông Phan C bị thương, đến ngày 01/5/2017 ông C tử vong.
Tại Bản án sơ thẩm số 55/2018/HS-ST ngày 31/5/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã quyết định:
Căn cứ vào: Điểm a Khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Đinh Văn T 24 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo bản án.
Ngày 31/5/2018, bị cáo Đinh Văn T có đơn kháng cáo với nội dung: Người bị hại cũng có một phần lỗi đã đi bộ qua đường không đúng nơi quy định. Án sơ thẩm xử nặng, xin được xét xử theo trình tự phúc thẩm để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện lao động bù đắp cho gia đình bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Đơn kháng cáo của bị cáo Đinh Văn T theo đúng thủ tục và trong thời hạn kháng cáo. Xét về nội dung đơn kháng cáo của bị cáo thì thấy Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2018/HS-ST ngày 31/5/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 là có cơ sở, đúng pháp luật. Tuy nhiên, trong vụ án này người bị hại cũng có một phần lỗi, đi qua đường không đúng phần đường dành cho người đi bộ; bị cáo là sinh viên, sau khi phạm tội bị cáo phải bỏ học đi làm thêm kiếm tiền khắc phục hậu quả; bị cáo là người dân tộc thiểu số K’Dong, mức án 24 tháng tù giam là nghiêm khắc; về dân sự bị cáo đã bồi thường xong nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà tạo điều kiện để bị cáo được tiếp tục lao động, học tập, sữa chữa lỗi lầm. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Đinh Văn T, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo Đinh Văn T vẫn giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đơn kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Mặc dù không có giấy phép lái xe nhưng khoảng 20 giờ ngày 26/4/2017, Đinh Văn T điều khiển xe mô tô BKS 77D1-102.34 loại trên 50 phân khối đi trên đường Nguyễn Tất Thành theo hướng từ cầu Thuận Phước về quận Liên Chiểu với tốc độ khoảng 40km/h. Khi đi đến đoạn đường trước số nhà 501 Nguyễn Tất Thành, do T không chú ý quan sát, xử lý kém nên đã để xe của mình tông vào ông Phan C đang đi bộ ngang qua đường theo chiều từ phải qua trái so với chiều chạy xe của T, làm ông C ngã xuống đường bị thương nặng, đến ngày 01/5/2017 thì tử vong
Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2018/HS-ST ngày 31/5/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã xét xử bị cáo Đinh Văn T về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo của bị cáo Đinh Văn T thì thấy: Bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định nhưng vẫn điều khiển xe mô tô loại trên 50 phân khối tham gia giao thông, không chú ý quan sát, xử lý kém nên tông vào người khác gây tai nạn, hậu quả làm một người chết. Hành vi của bị cáo không những đã vi phạm luật giao thông đường bộ mà còn gây thiệt hại đến tính mạng của người khác đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Đối với bị cáo cần phải xử phạt thỏa đáng để cải tạo giáo dục. Tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường xong cho gia đình người bị hại, gia đình người bị hại có đơn đề nghị không xử lý hình sự đối với bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Mặt khác, về phía người bị hại cũng có một phần lỗi đi qua đường không đúng nơi quy định. Vì vậy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà cho cải tạo giáo dục tại địa phương cũng thỏa đáng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa án sơ thẩm giữ nguyên hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
. Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào:
- Điểm b Khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Điểm a Khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Văn T , sửa bản án sơ thẩm.
2. Xử phạt: Đinh Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo về UBND xã S, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Đinh Văn T không phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Đà Nẵng; - Phòng HSNV – CA Tp Đà Nẵng; - VKSND quận Thanh Khê; - Cơ quan CSĐT CA. quận Thanh Khê; - Toà án nhân dân quận Thanh Khê; - CQ THAHS – CA quận Thanh Khê; - Chi cục THADS quận Thanh Khê; - Vụ GĐKT I – TAND tối cao; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Cảnh |