vanban.org

Bản án 142/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phan Thị Minh X và anh Lưu Thanh

N. Giấy chứng nhận kết hôn số số 91, quyển số 01/2012 ngày 29/8/2012 do Ủy ban nhân dân phường B, quận S, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Về nuôi con chung: Giao cháu Phan Thanh T, sinh ngày 05/9/2003 cho Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phan Thị Minh X và anh Lưu Thanh
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN S
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
_________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 08-3-2018
V/v “Ly hôn giữa chị X và anh N”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN S, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành ph n Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Lưu Ly

2. Bà Phan Thị Lan

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thùy Vân – Thư ký Toà án nhân dân Quận

S, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dịu Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân quận S, Thành phố

Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 612/2017/TLST-

HNGĐ ngày 02/10/2017 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

45/2018/QĐXX-ST ngày 18 tháng 01 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa

số 37/2018/QĐST-HPT ngày 08/02/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Minh X, sinh năm 1979 (có mặt)

Địa chỉ: 215/2 đường B, phường B, quận S, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên lạc: 27/18 đường T, phường M, quận N, Thành phố Hồ Chí

Minh.

- Bị đơn: Anh Lưu Thanh N, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Địa chỉ: 215/2 đường B, Phường B, quận S, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn nộp ngày 21/8/2017 và trong quá trình xét xử,

nguyên đơn chị Phan Thị Minh X trình bày: Chị và anh Lưu Thanh N tự nguyện chung sống với nhau năm 2000, có tổ chức lễ cưới, đến năm 2012 có đăng ký kết hôn tại UBND phường B, quận S, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 91, quyển số 01/2012 cấp ngày 29/8/2012), có 01 con chung tên: Phan Thanh T, sinh ngày 05/9/2003.

Sau khi cưới, chị X và anh N sống tại nhà gia đình chồng. Thời gian đầu,

vợ chồng sống hạnh phúc. Đến năm 2005 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do hai bên không không hòa hợp tính tình, anh N không có trách nhiệm với gia đình và chị X phát hiện anh N có sử dụng ma túy. Chị X đã nhiều lần khuyên nhủ, tạo điều kiện để anh N thay đổi tính tình nhưng không có kết quả. Từ đó, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và đã ly thân từ năm 2010 cho đến nay. Kể từ tháng 5 năm 2017 chị X đã dọn ra ngoài ở riêng. Nay, chị Phan Thị Minh X xác định không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Lưu Thanh N.

Về con chung: Chị Phan Thị Minh X yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng,

giáo dục con chung tên Phan Thanh T, sinh ngày 05/9/2003 cho đến khi thành niên, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

Bị đơn anh Lưu Thanh N đã được Tòa án triệu tập đến Tòa để trình bày ý

kiến về việc nguyên đơn yêu cầu ly hôn nhưng cố tình vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi nhận ý kiến và không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phan Thị Minh X vẫn giữ nguyên các ý

kiến đã trình bày, ngoài ra không có yêu cầu gì khác. Bị đơn anh Lưu Thanh N vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận S, Thành phố Hồ Chí Minh phát

biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đều đảm bảo đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng của chị Phan Thị Minh X và anh Lưu Thanh N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Viện kiểm sát nhân dân quận S, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị Minh X được ly hôn với anh Lưu Thanh N. Về con chung: Giao con chung tên Phan Thanh T, sinh ngày 05/9/2003 cho chị X nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Chị X không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Hình thức, nội dung đơn yêu cầu ly hôn của chị Phan Thị Minh X

thực hiện đúng quy định tại Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự nên được Hội đồng

xét xử chấp nhận.

. Yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Phan Thị Minh X đối với bị

đơn anh Lưu Thanh N có nơi cư trú tại quận S nên căn cứ quy định tại khoản 1

Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng

dân sự, Tòa án nhân dân quận S, Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải

quyết vụ án.

. Quan hệ hôn nhân giữa chị Phan Thị Minh X và anh Lưu Thanh N

phát sinh từ năm 2002, đến năm 2012 có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước

có thẩm quyền theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 là

hôn nhân hợp pháp.

. Về yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn:

Theo nguyên đơn chị Phan Thị Minh X trình bày mâu thuẫn vợ chồng

phát sinh từ năm 2005 do không hòa hợp nhau về mọi mặt, anh N không có

trách nhiệm với gia đình và có sử dụng ma túy nên vợ chồng thường xảy ra gây

cãi, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Chị X đã nhiều lần tạo cơ hội cho

anh N sửa đổi tính tính nhưng không có kết quả. Từ năm 2010, vợ chồng đã

sống ly thân. Nay chị Phan Thị Minh X xác định không còn tình cảm nên yêu

cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Lưu Thanh N.

Phía bị đơn anh Lưu Thanh N vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải

quyết vụ án nên không ghi nhận được ý kiến.

Theo Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng

có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ

nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình...” nhưng qua

lời trình bày của nguyên đơn thì Hội đồng xét xử xét thấy giữa chị X, anh N đã

phát sinh nhiều mâu thuẫn do không hòa hợp nhau về mọi mặt, vợ chồng không

có sự tôn trọng, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, cùng vun đắp cho cuộc sống gia

đình. Từ năm 2010 thì mâu thuẫn vợ chồng trở nên gay gắt và đã ly thân cho đến

nay. Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần tiến hành hòa giải tạo điều kiện

cho vợ chồng chị X, anh N hàn gắn tình cảm, trở về đoàn tụ nhưng phía bị đơn

anh Lưu Thanh N vắng mặt không lý do, do vậy Tòa án không tiến hành hòa

giải được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, xét

thấy mâu thuẫn vợ chồng của chị Phan Thị Minh X và anh Lưu Thanh N đã trầm

trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được

nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở.

. Về con chung: Chị Phan Thị Minh X và anh Lưu Thanh N có 01 con

chung tên Phan Thanh T, sinh ngày 05/9/2003. Chị X yêu cầu được trực tiếp

nuôi dưỡng, giáo dục con chung Phan Thanh T cho đến khi thành niên và không

yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện nay, chị

Phan Thị Minh X có việc làm và thu nhập ổn định, cháu Phan Thanh T có

nguyện vọng được sống cùng mẹ thể hiện tại biên bản ghi nhận nguyện vọng

ngày 05/12/2017. Vì lợi ích về mọi mặt của trẻ, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Phan Thanh T, sinh ngày 05/9/2003 cho chị X nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Chị X không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phan Thị Minh X xác định không

có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phan Thị Minh X phải chịu án phí ly

hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Chị Phan Thị Minh X và anh Lưu Thanh N

được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1

Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 9, 14, 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phan Thị Minh X và anh Lưu Thanh

N. Giấy chứng nhận kết hôn số số 91, quyển số 01/2012 ngày 29/8/2012 do Ủy ban nhân dân phường B, quận S, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Phan Thanh T, sinh ngày 05/9/2003 cho

chị Phan Thị Minh X nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Chị Phan Thị Minh X không yêu cầu anh Lưu Thanh N cấp dưỡng nuôi con.

Anh Lưu Thanh N có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung

với chị Phan Thị Minh X.

Anh Lưu Thanh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được

cản trở.

Trường hợp anh Lưu Thanh N lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc

gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Phan Thị Minh X có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Lưu Thanh N.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết đôi bên được quyền yêu cầu thay đổi

người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phan Thị Minh X xác định không

có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phan Thị Minh X nộp 300.000 đồng (ba

trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được tính vào số tiền tạm nộp án phí đã

nộp theo biên lai thu số 0028084 ngày 02/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân

sự quận S, Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Chị Phan Thị Minh X có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể

từ ngày tuyên án. Anh Lưu Thanh N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn

15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự

có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành

án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi

hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30

Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ