vanban.org

Bản án 141 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Ông Nguyễn Hồng Q phải chịu 300.

Bà Nguyễn Hồ Cẩm T không phải nộp tiền án phí hôn nhân sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa ông Quân với bà Tú"
  • Tòa quyết gì? Ông Nguyễn Hồng Q phải chịu 300.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH A
Bản án: 141/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 04/12/2018
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH A

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Thành Ngôn;

2. Bà Lê Thị Thanh Vân.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trương Phi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Hữu – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 592/2018/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2018/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 119/2018/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1988; địa chỉ: Số 87/9, tổ 4, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh A; có mặt.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Hồ Cẩm T, sinh năm 1989; địa chỉ: Số 235/4A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh A; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Hồng Q trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Hồ Cẩm T tự nguyện tìm hiểu vào năm 2009 và tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L vào ngày 06/9/2011. Hôn nhân lần thứ nhất của ông và bà Tú. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc khoảng 6, 7 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bà T phát sinh tình cảm với người đàn ông khác, ông có khuyên nhủ nhiều lần nhưng bà T vẫn tiếp tục qua lại với người đàn ông đó. Ông bà đã chính thức ly thân từ tháng 7 năm 2018 đến nay. Do tình cảm của vợ chồng dành cho nhau không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Tú.

- Về quan hệ con chung: Ông bà có 01 (Một) con chung tên Nguyễn Phước T, sinh ngày 09/02/2011. Tại đơn khởi kiện và bản tự khai cùng ngày 07/8/2018, ông có yêu cầu được nuôi con chung. Tuy nhiên, sau khi ông gửi đơn khởi kiện tại Tòa án thì bà T đã dẫn cháu T đi đâu không rõ. Do đó, ông không tranh chấp về quyền nuôi con chung và đồng ý để bà T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.

- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Ông Q trình bày không có. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng bà Nguyễn Hồ Cẩm T vẫn vắng mặt; không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hồng Q về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án,

- Nguyên đơn ông Nguyễn Hồng Q trình bày lời khai như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Hồ Cẩm T. Ông xác định từ khi vợ chồng chính thức ly thân từ tháng 07 năm 2018 đến nay thì ông bà không có biện pháp nào để khắc phục, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Ông đồng ý để bà T được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu T; ông tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng với số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) kể từ ngày xét xử đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về tài sản chung và nợ chung ông Q trình bày không có. Bên cạnh đó, ông Quân còn xác định, ngoài các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án thì ông không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.

- Bị đơn bà Nguyễn Hồ Cẩm T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của đương sự như sau: Thẩm phán chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các văn bản tố tụng được tống đạt, niêm yết đầy đủ cho các đương sự theo quy định tại các Điều 170, Điều 171 và Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử vụ án. Thư ký thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định tại Điều 70 và Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến cũng như vắng mặt tại các phiên hòa giải, phiên tòa là chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Nguyễn Hồng Q đối với bà Nguyễn Hồ Cẩm T.

Về con chung: Đề nghị giao cháu Nguyễn Phước T, sinh ngày 09/02/2011 cho bà Nguyễn Hồ Cẩm T được tiếp tục trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng để ổn định về cuộc sống của con chung sau khi cha mẹ ly hôn. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Hồng Q cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng với số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) kể từ ngày xét xử đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Q trình bày không có, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Ông Nguyễn Hồng Q khởi kiện yêu cầu ly hôn bà Nguyễn Hồ Cẩm T. Đồng thời, bà Tú có nơi cư trú trên địa bàn thành phố L. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố L theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân thành phố L thụ lý, giải quyết.

Mặc dù đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập đối với phiên tòa được mở lần thứ nhất và Quyết định hoãn phiên tòa đối với phiên tòa hôm nay nhưng bà T vẫn vắng mặt không rõ lý do, ông Q không yêu cầu hoãn phiên tòa. Do đây là lần thứ hai bà Tú vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. [2] Về nội dung: [2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Hồng Q và bà Nguyễn Hồ Cẩm T tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 212/2011, quyển số 01/2011, ngày 06/9/2011 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Chứng cứ ông Q đưa ra để yêu cầu ly hôn bà T là đời sống hôn nhân giữa ông và bà T không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được do bà T có phát sinh tình cảm với người đàn ông khác. Ông và gia đình đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng bà T không sửa đổi tính tình và lại tiếp tục qua lại với người đàn ông trên. Ông bà đã chính thức ly thân từ tháng 07 năm 2018 đến nay. Mặc dù những mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình, cha mẹ hai bên hàn gắn nhưng ông xác định, đời sống vợ chồng giữa ông và bà T không hạnh phúc, tình cảm của ông dành cho bà T không còn nên ông yêu cầu được ly hôn bà T. Trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bà T vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông Quân. Đồng thời, bà T cũng không thực hiện việc cung cấp, giao nộp chứng cứ và vắng mặt trong các buổi hòa giải theo thông báo của Tòa án. Tại phiên tòa, bà T tiếp tục vắng mặt không có lý do là không có thiện chí hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tại phiên tòa, ông Q trình bày, tình cảm của ông dành cho bà T không còn. Ông bà đã chính thức ly thân hơn 05 tháng nay. Ông đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được. Khoảng hơn hai năm trước, ông phát hiện bà T có phát sinh tình cảm với người đàn ông khác, ông có khuyên nhủ bà T để vợ chồng cùng nhau chăm lo và nuôi dạy con cái. Trước thời điểm ông nộp đơn khởi kiện tại Tòa án thì ông lại tiếp tục phát hiện bà T có nhắn tin qua lại với người đàn ông trên nên vợ chồng xảy ra cự cãi, thường xuyên bất hòa và không tìm được tiếng nói chung. Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác. Thấy rằng, thực tế đời sống hôn nhân giữa ông Q và bà T đã không còn tồn tại. Ông bà đã có khoảng thời gian ly thân hơn 05 tháng nay và không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau. Điều đó chứng tỏ cuộc hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nếu duy trì cuộc hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc thật sự cho cả hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Q được ly hôn bà T, theo như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L tại phiên tòa.

Về con chung: Ông bà có 01 (Một) con chung tên Nguyễn Phước T, sinh ngày 09/02/2011. Quá trình giải quyết, do bà T đã dẫn cháu T đi đâu không rõ. Ông không liên lạc được với bà T nên ông không cung cấp được nguyện vọng của cháu Thịnh là muốn sống với cha hay mẹ.

Tại phiên tòa, ông Q trình bày, cháu T từ nhỏ sinh sống cùng ông và bà T. Khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn thì bà T đã dẫn cháu T đi đâu không rõ, ông đã tìm mọi cách để liên hệ vợ và con nhưng không được. Do đó, ông không tranh chấp về quyền nuôi con chung và đồng ý để bà T được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu T. Ông tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng với số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) đến khi con chung đủ 18 tuổi, thời gian thực hiện việc cấp dưỡng kể từ ngày xét xử.

Thấy rằng, từ khi không còn sống chung với nhau từ tháng 7 năm 2018 đến nay, cháu T do bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Quân không tranh chấp về quyền nuôi con chung và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng với số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) đến khi con chung đủ 18 tuổi, thời gian thực hiện việc cấp dưỡng kể từ ngày xét xử. Cho nên, để ổn định cuộc sống của con chung sau khi cha mẹ ly hôn, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung cho bà T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng với số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) của ông Q. Ông Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung. Bà T và gia đình phải tạo điều kiện cho ông Q được thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Ông Q trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Bà Nguyễn Hồ Cẩm T không có văn bản trình bày ý kiến về tài sản chung và nợ chung, nên Hội đồng xét xử chưa xem xét, giải quyết. Nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ khởi kiện vụ kiện khác. [2.5] Về án phí: Ông Q phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm cấp dưỡng nuôi con chung, được trừ vào 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp. Ông Q còn phải nộp tiếp 300.000đ. Bà T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; Điều 186; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 232; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; Điều 54; khoản 1 Điều 56; Điều 57, Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 107; Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xét xử vắng mặt bị đơn bà Nguyễn Hồ Cẩm T. Tuyên xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hồng Q. Ông Nguyễn Hồng Q được ly hôn bà Nguyễn Hồ Cẩm T. 2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Nguyễn Phước T, sinh ngày 09/02/2011 cho bà Nguyễn Hồ Cẩm T được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Nguyễn Hồng Q tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng với số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng). Thời gian thực hiện việc cấp dưỡng kể từ ngày 04/12/2018 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Mức cấp dưỡng được thay đổi theo từng thời điểm. Bà Nguyễn Hồ Cẩm T cùng các thành viên trong gia đình phải tạo điều kiện cho ông Nguyễn Hồng Q đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định. 3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chưa xem xét, giải quyết. 4. Về án phí:

- Ông Nguyễn Hồng Q phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm cấp dưỡng nuôi con chung, được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009777, ngày 07/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L. Ông Nguyễn Hồng Q còn phải nộp tiếp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

- Bà Nguyễn Hồ Cẩm T không phải nộp tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

- Ông Nguyễn Hồng Q được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

- Bà Nguyễn Hồ Cẩm T được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ