vanban.org

Bản án 141/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Lâm Anh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ 23/9/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÂM ANH T - TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141/2026/HS-ST
Ngày: 23-3-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Ngọc.

2. Bà Nguyễn Phước Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Phúc là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Tất Nam, là Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 454/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2026/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số: 68/2026/HSST-QĐ ngày 09 tháng 02 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 140/2026/HSST-QĐ ngày 09 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lâm Anh T, sinh năm: 1999; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; CCCD số: 079099027***; Nơi đăng ký thường trú: Số G đường P, ấp B, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: Không; Họ và tên cha: Lâm Anh T1, sinh năm: 1978; họ và tên mẹ: Lê Thị M, sinh năm: 1982; A, chị, em ruột: có 02 người kể cả bị cáo; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2013 bị Ủy ban nhân dân huyện C áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng theo Quyết định số 4505/QĐ-UBND ngày 13/5/2013; Năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, bị cáo chấp hành xong ngày 31/01/2019. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/9/2025 tại Trại tạm giam C – Cơ sở T30 cho đến nay; Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Tấn T2, sinh năm 1987 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: I ấp C, Xã T, Thành phố Hồ Chí Minh

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Bà Lê Thị Tuyết N, sinh năm 1987 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: F đường C, ấp X, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 06 giờ ngày 20/9/2025, sau khi lên nhà tìm bạn ở xã P (cũ) chơi nhưng không gặp, Lâm Anh T đi bộ trên đường về nhà, đến trước nhà anh Nguyễn Tấn T2, địa chỉ số I đường B, ấp C, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh, T thấy phía trước sân nhà anh T2 có dựng 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, màu đen - xám, biển số: 55Y4 – 1403 của anh T2, đang dựng chống nghiêng, có cắm sẵn chìa khóa xe nhưng không người trông coi nên T nảy sinh ý định trộm cắp xe này đem bán lấy tiền.

T đi bộ vào sân nhà nơi đang dựng xe, lén lút lấy trộm xe, quay đầu xe rồi lên xe bật chìa khóa, khởi động máy định tẩu thoát thì bị anh T2, là chủ xe phát hiện chạy bộ đuổi theo nên T tăng ga bỏ chạy lên bờ kênh Đ, hướng ra đường P. Lúc này anh T2 vừa chạy bộ đuổi theo vừa tri hô “cướp cướp” thì T đã chạy được khoảng 500m, khuất tầm nhìn của anh T2. Nghe tiếng tri hô, cậu của anh T2 là Nguyễn Văn Ú và cháu của anh T2 là Nguyễn Đức D ở cạnh nhà anh T2 hỗ trợ truy đuổi đến trước số nhà A, đường P, ấp B, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh thì D đuổi kịp nên ép xe làm T té ngã xuống đường. Anh T2, anh Ú cùng D bắt giữ T cùng xe mô tô biển số: 55Y4 - 1403 bàn giao Công an xã T xử lý.

Tại Công an xã T, khám xét bên trong cốp xe có: Tiền mặt 3.167.000 đồng; 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số 034498, biển số đăng ký: 55Y4 – 1403 (bản chính).

Tại Cơ quan CSĐT Công an Thành phố H, Lâm Anh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.

Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 11/12/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự cấp xã UBND xã T kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe: 02 bánh từ 50-173cm3, loại Wave S, màu đen xám, biển số 55Y4-1403 (đã qua sử dụng): trị giá 9.000.000 đồng (BL 182, 183).

Vật chứng thu giữ:

- Số tiền 3.167.000 đồng. Đây là tài sản bị can T đã trộm của bị hại Nguyễn Tấn T2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã xử lý bằng hình thức trả lại cho Nguyễn Tấn T2 theo Quyết định số G8709/QĐ-VPCQCSĐT ngày 25/9/2025 (BL 121).

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, màu đen–xám, biển số: 55Y4 – 1403 (đã qua sử dụng), 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy tên chủ xe Lê Thị Tuyết N (bản chính). Đây là tài sản bị can T đã trộm của Nguyễn Tấn T2. Theo lệnh nhập kho vật chứng số G7102/LNK-VPCQCSĐT ngày 15/12/2025 (BL 172, 178, 179).

- 01 bộ quần áo của Lâm Anh T khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Theo lệnh nhập kho vật chứng số G5169/LNK-VPCQCSĐT ngày 24/10/2025 (BL 158, 159, 160).

- 02 USB chứa dữ liệu hình ảnh T bỏ chạy tẩu thoát sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản kèm theo hồ sơ vụ án (BL 173, 174).

Về yêu cầu dân sự: Ông Nguyễn Tấn T2 yêu cầu được nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là xe mô tô biển số: 55Y4 – 1403 và không có yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 122/CT-VKSKV8 ngày 25 tháng 12 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lâm Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lâm Anh T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về xử lý vật chứng của vụ án:

+ Đối với số tiền 3.167.000 đồng, là tài sản bị cáo đã trộm của bị hại Nguyễn Tấn T2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã xử lý bằng hình thức trả lại cho Nguyễn Tấn T2 theo Quyết định số G8709/QĐ-VPCQCSĐT ngày 25/9/2025.

+ Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, màu đen – xám, biển số: 55Y4 – 1403 (đã qua sử dụng); 01 giấy đăng ký mô tô (bản chính). Qua xác minh chủ xe tên Lê Thị Tuyết N đã bán cho Nguyễn Tấn T2, đề nghị Hội đồng xét xử trao trả lại cho anh Nguyễn Tấn T2 tiếp tục quản lý và sử dụng.

+ Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi dài tay, màu xanh đen; 01 quần vải ngắn màu nâu, bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội và không có nhu cầu nhận lại.

+ Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án: 02 USB chứa đoạn ghi hình ghi nhận hình ảnh T bỏ chạy tẩu thoát sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản kèm theo hồ sơ vụ án (lưu trong hồ sơ vụ án).

Bị cáo Lâm Anh T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh. Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận:

Vào ngày 20/9/2025, tại địa chỉ số I đường B, ấp C, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Anh T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, màu đen - xám, biển số 55Y4 – 1403 của ông Nguyễn Tấn T2, trong cốp xe có 3.167.000 (Ba triệu một trăm sáu mươi bảy ngàn) đồng tiền mặt. Kết luận định giá tài sản xe mô tô là 9.000.000 (chín triệu) đồng (theo kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐDGTS ngày 11/12/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND xã T). Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 12.167.000 (Mười hai triệu một trăm sáu mươi bảy ngàn) đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lâm Anh T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 -Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố để xét xử bị cáo theo điều luật đã viện dẫn nêu trên là đúng người, đúng tội, nên buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo là người đã thành niên, có khả năng lao động nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về tình tiết giảm nhẹ:

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình”, bị cáo “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng” nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo là phù hợp.

Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng theo Quyết định số 4505/QĐ-UBND ngày 13/5/2013 và áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc năm 2019.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi dài tay, màu xanh đen; 01 quần vải ngắn màu nâu, bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội và không có nhu cầu nhận lại.

- Trả lại cho Nguyễn Tấn T2 tiếp tục quản lý, sử dụng 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, màu đen – xám, biển số 55Y4 – 1403 (đã qua sử dụng); 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy tên chủ xe Lê Thị Tuyết N (bản chính).

- Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án: 02 USB chứa đoạn ghi hình ghi nhận hình ảnh T bỏ chạy tẩu thoát sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản kèm theo hồ sơ vụ án (lưu trong hồ sơ vụ án).

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Lâm Anh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Thời hạn tù tính từ 23/9/2025.

2/ Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tạm giam bị cáo Lâm Anh T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3/ Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi dài tay, màu xanh đen, đường vải gắn nút áo màu hồng; 01 quần vải ngắn màu nâu, lưng quần bên trong có đường vải màu xanh.

- Trả lại cho Nguyễn Tấn T2 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave S, màu đen – xám, biển số: 55Y4 – 1403, số khung: RLHHC12058Y644586, số máy: HC12E-0304634 (đã qua sử dụng); 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số 034498, nhãn hiệu Honda, loại Wave S, màu đen – xám, biển số: 55Y4 – 1403 tên chủ xe Lê Thị Tuyết N (bản chính).

- Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án: 02 USB chứa đoạn ghi hình ghi nhận hình ảnh T bỏ chạy tẩu thoát sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản kèm theo hồ sơ vụ án (lưu trong hồ sơ vụ án).

(Vật chứng của vụ án hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng thuộc Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 theo Quyết định chuyển vật chứng số 120/QĐ-VKSKV8 ngày 25/12/2025; Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/11/2025; Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/12/2025).

4/ Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Án phí: Buộc bị cáo Lâm Anh T phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm

5/ Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ