- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Dương Văn M phạm tội "Cố ý gây thương tích". - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 L…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 141/2025/HSST Ngày: 27 - 5 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Hoàng Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Trần Quang Cảnh
2/ Bà Phạm Thị Nhung
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Thành Nguyên – Thư ký Tòa án nhân
dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí
Minh tham gia phiên toà: Ông Khổng Sơn Tùng – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét
xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 133/2025/HSST ngày 29 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Dương Văn M; sinh năm: 1980; tại: An Giang; trú tại: 1 đường L, phường
P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ học vấn: 03/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt nam; con ông: Dương Minh H (đã chết) và bà Hồ Thị H1 (đã chết); vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1981 và con 02 người, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2015; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo bị bắt giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2024 – Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Dương Văn M1, sinh năm 1970; trú tại: 1 đường L, phường P,
quận T, Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Dương Minh D, sinh năm 1986; trú tại: 1 đường L, phường P, quận T,
Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt.
Người làm chứng: Bà Dương Thị H2, sinh năm 1981; địa chỉ: 1 đường L,
phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Trang 1
Anh Dương Minh M2, Dương Minh D và Dương Văn M là anh em ruột
sống cùng nhà tại địa chỉ 1 đường L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, trong quá trình sinh sống đã xảy ra mâu thuẫn nhưng không xảy ra xô xát.
Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 23/5/2024, Dương Minh D tìm và gặp Dương
Văn M tại 4 đường L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết mâu thuẫn giữa M và anh M2, quá trình nói chuyện cả hai xảy ra cự cãi và đánh nhau. Sau đó, D và M về nhà tại địa chỉ 127/2/8 L, phường P, cả hai tiếp tục đánh nhau nhưng được người dân can ngăn, nên D điều khiển xe gắn máy bỏ đi, còn M thì đi vào nhà. Nghi ngờ việc D đánh mình là do anh Dương Minh M2 yêu cầu, nên M đã xuống phòng bếp, lấy 01 con dao cán gỗ, lưỡi kim loại dài khoảng 40 cm, lên tầng 1 để tìm anh M2. Khi thấy anh M2 đang nằm ngủ ngoài ban công tầng 1, M liền đi lại, dùng dao chém 01 nhát làm rách da vùng ngực của anh M2, rồi tiếp tục chém 04 nhát từ trên xuống dưới, lúc này, anh M2 tỉnh dậy, đưa hai tay lên đỡ thì bị thương ở cổ tay trái và 03 ngón tay phải. Sau đó, anh M2 đứng dậy bỏ chạy thì bị M đuổi theo khoảng 08 mét đến 09 mét dùng dao chém 01 nhát vào phần cổ sau gáy và 01 nhát vào tai trái. Khi anh M2 chạy xuống dưới nhà thì được người thân đưa đi cấp cứu, còn M không đuổi theo mà đứng ở ban công cự cãi với Dương Văn D1, lúc này đang đứng trước cửa nhà. Sau khi sự việc xảy ra, chị Dương Thị H2 là em ruột của M đã đến Công an phường P trình báo vụ việc.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 3274/KLTTCT-
C09B ngày 12/6/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Dương Minh M2 như sau:
“1. Các kết quả chính:
- Vết thương phần mềm vùng chẩm đến vành tai trái kích thước trung bình,
bờ mép gọn.
- Vết thương phần mềm vùng ngực phải đã đóng vảy, kích thước trung bình,
bờ mép gọn.
- Tay phải
+ 06 vết thương phần mềm bờ mép gọn, trong đó có 05 vết thương kích
thước nhỏ, 01 vết thương trung bình.
+ Gãy đốt 1, chỏm đốt 2, đốt 3 ngón IV.
+ Gãy đốt 2 ngón V
- Tay trái
+ Vết mổ nằm dọc mu bàn tay đến mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái kích thước
trung bình
+ Vết thương phần mềm mu bàn tay đến bờ trong cổ tay trái kích thước
trung bình, bờ mép gọn.
+ Gãy xương tháp tay trái.
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định
về tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Dương Minh M2
Trang 2
tại thời điểm giám định là: 27% (Hai mươi bảy phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
3. Kết luận khác:
- Các thương tích trên cơ thể Dương Minh M2 có đặc điểm phù hợp do vật
sắc tác động gây nên.
- Các thương tích trên cơ thể Dương Minh M2 không gây nguy hiểm đến
tính mạng.
- Hiện các thương tích trên cơ thể Dương Minh M2 đang trong quá trình
điều trị, chưa đánh giá đầy đủ mức độ tổn thương cũng như di chứng để lại. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đưa ông Dương Minh M2 đi giám định bổ sung sau khi đã điều trị ổn định.”
Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số
5543/KLTTCT-C09B ngày 27/9/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Dương Minh M2 như sau:
“1. Các kết quả chính:
- Sẹo phần mềm vùng chẩm đến vàng tai trái kích thước trung bình, bờ mép
gọn.
- Sẹo phần mềm vùng ngực phải, kích thước trung bình, bờ mép gọn.
- Tay phải
+ 06 sẹo phần mềm bờ mép gọn, gồm có 05 sẹo kích thước nhỏ, 01 sẹo
kích thước trung bình.
+ Gãy đốt 1, chỏm đốt 2, đốt 3 ngón IV.
+ Gãy đốt 2 ngón V
- Tay trái
+ Sẹo mổ nằm dọc mu bàn tay đến mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái kích thước
trung bình.
+ Sẹo phần mềm mu bàn tay đến bờ trong cổ tay trái kích thước trung bình,
bờ mép gọn.
+ Gãy xương tháp tay trái.
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định
về tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Dương Minh M2 tại thời điểm giám định là: 27% (Hai mươi bảy phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.”
Vật chứng:
- 01 (một) con dao dài khoảng 40 cm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng sắt gỉ sét và
cũ. Đây là hung khí Dương Văn M dùng để gây thương tích cho anh Dương Minh M2.
- 01 (một) áo thun màu trắng, tay dài và 01 quần jean ngắn màu xanh. Đây
là chiếc áo Dương Văn M mặc khi thực hiện hành vi cố ý gây thương tích.
Trang 3
Tại bản cáo trạng số 288/CT-VKSQ.TP ngày 12 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú đã truy tố bị cáo Dương Văn M về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa: Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ nguyên
quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Dương Văn M từ 03 năm đến 04 năm tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý phần trách nhiệm dân sự và vật chứng.
- Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án, bị cáo
không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát
viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa không phù hợp với các tài liệu
chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị hại; người liên quan; người làm chứng nên đã có đủ cơ sở để xác định:
Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 23/5/2024, tại 127/2/8 đường L, phường
P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Dương Văn M nghi ngờ anh Dương Minh M2 yêu cầu Dương Văn D1 đánh mình nên đã dùng 01 con dao cán gỗ, lưỡi kim loại dài khoảng 40cm, chém một nhát làm rách da vùng ngực của anh M2. Sau đó anh M2 ngồi dậy, M tiếp tục chém 04 nhát từ trên xuống vào vùng đầu, anh M2 đưa tay lên đỡ nên gây thương tích tại cổ tay trái và 03 ngón tay phải của anh M2, Khi anh M2 đứng dậy bỏ chạy thì M đuổi theo khoảng 08 mét đến chân cầu thang dùng dao chém 01 nhát vào phần cổ sau gáy và 01 nhát vào tai trái.
Giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn từ trước chỉ vì hiểu lầm anh
Dương Văn M1 yêu cầu anh Dương Văn D1 đánh bị cáo nên bị cáo đã dùng con dao bằng kim loại dài khoảng 40cm để gây thương tích cho anh M1 với tỷ lệ thương tật cơ thể là 27% nên Bản Cáo trạng số 288/CT-VKSQ.TP ngày 12/11/2024 truy tố bị cáo Dương Văn M về tội “Cố ý gây thương tích”, với các
Trang 4
tình tiết “Dùng hung khí nguy hiểm” và “có tính chất côn đồ” là có cơ sở đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến
quyền được bảo vệ về sức khỏe của công dân, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Hành vi thể hiện tính xem thường pháp luật, xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối
cải; bị hại đã làm đơn bãi nại cho bị cáo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Dương Minh M2 không yêu cầu bị cáo
Dương Văn M phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) con dao dài khoảng 40 cm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng sắt, gỉ sét và
cũ. Đây là hung khí Dương Văn M dùng để gây thương tích cho anh Dương Minh M2; 01 (một) áo thun màu trắng, tay dài và 01 (một) quần jean ngắn màu xanh. Đây là chiếc áo Dương Văn M mặc khi thực hiện hành vi cố ý gây thương tích. Hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Về Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định pháp
luật.
Về những vấn đề khác: Đối với anh Dương Văn D1 và Dương Văn M
có hành vi đánh nhau đánh nhau gây thương tích, tuy nhiên cả hai đều có đơn không yêu cầu xử lý hình sự và từ chối giám định thương tích. Đồng thời, căn cứ kết quả điều tra bổ sung xác định vụ việc đánh nhau giữa Dương Văn D1 và Dương Văn M có gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự nhưng không gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, do đó không có cơ sở xử lý.
Kiến nghị: Về hung khí gây án, bị cáo sử dụng 01 con dao cán gỗ, lưỡi
bằng kim loại dài khoảng 40cm là hung khí nguy hiểm. Về hành vi, bị cáo dùng hung khí nguy hiểm chém bị hại nhát đầu tiên trong khi bị hại đang nằm ngữa, trạng thái ngủ, không có khả năng tự vệ, bị cáo trong tư thế đứng chém một nhát theo hướng từ trên xuống vào vùng ngực. Sau đó, khi bị hại tỉnh giấc, trong tư thế ngồi, bị cáo trong tư thế đứng, chém liên tiếp 04 nhát theo hướng từ trên xuống với lực rất mạnh vào vùng đầu nhưng do bị hại đưa tay lên đỡ nên gây thương tích ở hai tay. Khi bị hại bỏ chạy, bị cáo đuổi theo khoảng 08 mét, từ phía sau, chém liên tiếp 02 nhát vào vùng sau gáy và tai trái của bị hại. Những vùng bị cáo chém bị hại là những vùng trọng yếu có khả năng dẫn đến chết người, bị cáo chém bị hại liên tục thể hiện sự quyết liệt, bỏ mặt hậu quả chết người xảy ra. Về ý thức, bị cáo nhận thức được việc dùng hung khí nguy hiểm chém vào những vùng trọng yếu trên cơ thể có thể dẫn đến chết người nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.
Trang 5
Tòa án nhân dân quận Tân Phú đã trả hồ sơ điều tra bổ sung để truy tố
Dương Văn M về tội “Giết người”, tuy nhiên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú vẫn bảo lưu quan điểm, vì vậy, Hội đồng xét xử kiến nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xem xét xử lý bị cáo Dương Văn M về tội “Giết người”.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều
51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Dương Văn M phạm tội "Cố ý gây thương tích".
Xử phạt bị cáo Dương Văn M 05 (năm) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 18 tháng 6 năm 2024.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao dài khoảng 40 cm, cán bằng gỗ, lưỡi
bằng sắt gỉ sét và cũ; 01 (một) áo thun màu trắng, tay dài và 01 (một) quần jean ngắn màu xanh. (Vật chứng hiện đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số 275/PNK ngày 05/11/2024 của Công an quận T)
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Dương Văn M nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Kiến nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xem xét xử lý
Dương Văn M về tội “Giết người”.
[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015.
Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
[7] Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Trang 6
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - TAND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND TP. Hồ Chí Minh; - VKS quận Tân Phú; - THA quận Tân Phú; - Công an TP. Hồ Chí Minh; - Sở Tư pháp TP. HCM; - Lưu hồ sơ Lê Viết Hoàng Lâm Trang 7 Trang 8 Trang 9 |