vanban.org

Bản án 141/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc Q 04(bốn) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/01/2025.

Xử phạt bị cáo Phạm Hồng Đ 03(ba) năm 06(sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/01/2025. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy đã qua giám định. Bên ngoài có các chữ ký ghi tên Ngu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - Bị truy tố tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 197 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc Q 04(bốn) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/01/2025.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141/2025/HS-ST
Ngày: 12- 9- 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KHU VỰC 9 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tín

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thanh Dân

Bà Lê Thị Mỹ Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 310/2025/TLST-HS, ngày 26 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 222/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2025 đối với các bị cáo:

1/Đỗ Ngọc Q; sinh năm 19xx, tại: ĐL; Hộ khẩu thường trú: Thôn E, xã E1 huyện B, tỉnh ĐL(nay là xã E1, tỉnh ĐL); Chỗ ở: Số 7xx đường số x, khu phố x, phường Bình H, quận B1, Thành phố H(nay là phường B, Thành phố H); Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn 8/12; con ông Đỗ Ngọc T, sinh năm 19xx và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 19xx; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo bị bắt ngày 15/01/2025 (Có mặt).

2/Phạm Hồng Đ; sinh năm 19xx, tại: Đ; Hộ khẩu thường trú: K, phường A, Thành phố HN, tỉnh Đ(nay là phường T, tỉnh Đ); Chỗ ở: Số 7x đường số x, khu phố X , phường B, quận B1, Thành phố H (nay là phường B, Thành phố H); giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; con ông Phạm Hồng P, sinh năm 19xx và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 19xx; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 15/01/2025 (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Hồng Đ và Đỗ Ngọc Q là công nhân cơ sở may tại địa chỉ 7x Đường số x, khu phố 2x, Phường B, Quận B1, Thành phố Hồ Chí Minh do chị Trần Thị Cẩm Giang làm chủ. Cả hai làm việc và ngủ lại tại cơ sở này.

Vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 12/01/2025, Q và Đ đang ở cơ sở may thì Q nói với Đ “nay có chơi không” thì Đ nói “chơi thì chơi”, Q nói “mỗi người hùn một ít chơi”, sau khi cả hai thỏa thuận xong thì Q liên lạc với đối tượng tên “Kỷ” qua ứng dụng Zalo để đặt mua 01 gói ma túy, 01 ống thủy tinh có đầu tròn và 01 ống hút với số tiền 300.000 đồng. Sau đó, Q ra trước hẻm 7x đường số x, phường B, quận B1 để lấy ma túy rồi đem lên ban công gác lửng, Q lấy chai nước uống làm bình nhựa và đục 02 lỗ trên nắp của bình nhựa để gắn ống thủy tinh có đầu tròn và gắn ống hút làm thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi đổ một phần gói ma túy vừa mua được đổ vào đầu tròn của ống thủy tinh dùng bật lửa đốt vào đầu tròn của ống thủy tinh để nấu ma túy. Q nói với Đ “bạn ra làm một khói” thì Đ từ gác đi ra ban công. Lúc này, Q cầm bình chứa ma túy đưa cho Đ hút 01 hơi. Sau đó, Đ cầm bình dùng bật lửa đốt vào đầu tròn của ống thủy tinh đưa cho Q hút 01 hơi. Sau khi cả hai sử dụng ma túy xong, Q để gói nylon chứa phần ma túy còn lại lên máy tôn dưới chân bồn nước và để bộ dụng cụ sử dụng ma túy dưới nên gạch. Đ đưa cho Q số tiền 200.000 đồng là tiền hùn mua ma túy.

Vào khoảng 21 giờ 00 ngày 13/01/2025, Công an phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân kiểm tra hành chính nhà số 7x Đường số x, khu phố 2x, Phường B, Quận B1. Tại đây, Q khai nhận trên mái tôn dưới chân bồn nước ở ban công có 01 gói nylon chứa ma túy và trên sàn nhà tại ban công có 01 bình có gắn ống thủy tinh và ống hút nên lực lượng Công an thu giữ vật chứng đưa Q và Đ về Công an phường Bình Hưng Hòa làm việc. Hồ sơ sau đó chuyển đến Cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản Kết luận giám định số 1826/KL-KTHS ngày 22/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

Tinh thể không màu được ký hiệu m cần giám định (đã nêu mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0468g, loại Methamphetamine.

Vật chứng vụ án :

- 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy đã qua giám định. Bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc Tuấn (điều tra viên) hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân, chữ ký giám định viên, cán bộ điều tra

- 01 bình có gắn ống thủy tinh và gắn ống hút.

- 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG (số IMEI: 350588936755669/01), có số thuê bao: 0839814747, thu giữ của bị cáo Đỗ Ngọc Q, sử dụng để liên lạc mua ma túy.

- 01 điện thoại di động hiệu OPPO (số IMEI: 867143061440715), có số thuê bao: 0963504408, thu giữ của Phạm Hồng Đ, không liên quan đến vụ án.

- Số tiền 200.000 đồng đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra các bị cáo, Đỗ Ngọc Q và Phạm Hồng Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 310/QĐ-VKS ngày 26/6/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân truy tố Đỗ Ngọc Q và Phạm Hồng Đ (có lý lịch nêu trên) về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân sau khi phân tích nội dung vụ án, phân tích chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc Q từ 03 năm đến 04 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ khoản 1 Điều 255 điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Hồng Đ từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Đối với 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy đã qua giám định. Bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc Tuấn (điều tra viên) hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân, chữ ký giám định viên, cán bộ điều tra qua giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,0468g, loại Methamphetamine là vật Nhà nước cấm lưu hành sử dụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 bình có gắn ống thủy tinh và gắn ống hút là dụng cụ các bị cáo dùng để sử dụng ma túy nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG (số IMEI: 350588936755669/01), có số thuê bao: 0839814747, thu giữ của bị cáo Đỗ Ngọc Q, sử dụng để liên lạc mua ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO (số IMEI: 867143061440715), có số thuê bao: 0963504408, thu giữ của Phạm Hồng Đ, không liên quan đến vụ án đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.

Đối với số tiền 200.000 VNĐ đồng là tiền có liên quan đến vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung quỹ Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an quận Bình Tân nay là Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản cáo trạng thì bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp nhau, phù hợp với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 12/01/2025, Đỗ Ngọc Q đã có hành vi rủ Phạm Hồng Đ hùn tiền mua ma túy về để tổ chức sử dụng ma túy tại nhà số 7x Đường số x, khu phố 2x, Phường B, Quận B1, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị phát hiện và bị bắt giữ. Do đó, cáo trạng số 279/CT-VKSQ.BT ngày 23/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện là cố ý nguy hiểm cho xã hội. Bỡi lẽ ma túy là chất độc hại gây nghiện ảnh hưởng đến sức khỏe con người và ảnh hưởng đến sự phát triển của cộng đồng xã hội, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội. Các bị cáo do chay lười lao động, thích hưởng thụ nên sớm đi vào con đường nghiện ngập. Mặt khác ma túy còn làm người sử dụng tự hủy hoại bản thân mà còn ảnh hưởng đến kinh tế gia đình làm cho xã hội phải gánh chịu hậu quả to lớn do ma túy để lại, góp phần làm gia tăng các loại tội phạm khác, làm lây lan những căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với người nghiện ma túy. Mặc dù các bị cáo nhận thức được việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm khắc, nhưng các bị cáo vẫn ngang nhiên thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp những qui định của pháp luật, điều đó thể hiện ý thức các bị cáo rất xem thường pháp luật.

Đây là vụ án có tính chất đồng phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn xét tính chất và vai trò của từng bị cáo trong vụ án thì Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo Q là người rủ rê, khơi gợi sự thèm muốn sử dụng ma túy, là người trực tiếp đi mua ma túy về để cùng nhau sử dụng nên bị cáo phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Đ là phù hợp.

Bị cáo Đ giữ vai trò giúp sức tích cực trong việc phạm tội, cùng góp tiền mua ma túy chung với bị cáo Q.

Khi bắt giữ các bị cáo Đỗ Ngọc Q, Phạm Hồng Đ Cơ quan điều tra thu một lượng ma túy mà các bị cáo chưa sử dụng hết qua giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0468g, loại Methamphetamine chưa đủ định lượng để xử lý các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Cơ quan điều tra không xử lý là có cơ sở.

Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Xét các bị cáo đều có nhân thân tốt, bản thân chưa có tiền án tiền sự, tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội, tỏ ra ăn năn hối cải, nên Hội đồng xét xử cũng cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh các bị cáo nên quyết định miễn phạt bổ sung .

Về vật chứng vụ án: Đối với 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy đã qua giám định. Bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc Tuấn (điều tra viên) hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân, chữ ký giám định viên, cán bộ điều tra qua giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,0468g, loại Methamphetamine là vật Nhà nước cấm lưu hành sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 bình có gắn ống thủy tinh và gắn ống hút là dụng cụ các bị cáo dùng để sử dụng ma túy nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG (số IMEI: 350588936755669/01), có số thuê bao: 0839814747, thu giữ của bị cáo Đỗ Ngọc Q, sử dụng để liên lạc mua ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO (số IMEI: 867143061440715), có số thuê bao: 0963504408, thu giữ của Phạm Hồng Đ, không liên quan đến vụ án đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.

Đối với số tiền 200.000 VNĐ đồng là tiền có liên quan đến vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc Q 04(bốn) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/01/2025.

Căn cứ khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Phạm Hồng Đ 03(ba) năm 06(sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/01/2025.

Căn cứ Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

2.Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy đã qua giám định. Bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc Tuấn (điều tra viên) hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân, chữ ký giám định viên, cán bộ điều tra và 01 bình có gắn ống thủy tinh và gắn ống hút.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG (số IMEI: 350588936755669/01), có số thuê bao: 063504408.

Trả lại cho bị cáo Phạm Hồng Đ 01 điện thoại di động hiệu OPPO (số IMEI: 867143061440715), có số thuê bao: 0963504408. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000 VNĐ đồng.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số NK25/336TV ngày 19/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Bình Tân nay là phòng Thi hành án dân sự khu vực 9-Thành phố Hồ Chí Minh và giấy nộp tiền vào kho bạc Nhà nước ngày 20/6/2015).

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

3.Về án phí: Mỗi bi cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng, nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ