vanban.org

Bản án 141/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài C 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Thời hạn tù tính từ ngày 11/9/2024.

Tịch thu tiêu hủy 01 con dao cán gỗ màu đen dài khoảng 22 cm có chữ ZEBRA, 01 con dao tự chế lưỡi dao có hình hoa văn dài khoảng 32,5 cm, 01 con dao tự chế dài khoảng 47 cm, 01 con dao tự chế dài khoảng 48 cm (Tất cả các vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 36/QĐ-VKS-HS ngày 31/12/2024 Viện… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài C 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Thời hạn tù tính từ ngày 11/9/2024.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141/2025/HS-ST
Ngày: 12/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Lê

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Khanh

Bà Nguyễn Thị Kim Liên

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đức Đạt – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, 94/7 Quang Trung, thị trấn Hóc Môn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 171/2025/HSST ngày 07 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoài C; sinh năm 1984, tại Quảng Nam; Hộ khẩu thường trú: tổ I, phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum; Nơi ở trước khi bị bắt: 21/10 ấp D, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Thợ sơn; Con ông Nguyễn C1 và bà Nguyễn Thị H; Có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/9/2024; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Trần Chí L, sinh năm: 1995; Địa chỉ: H tổ A, ấp D, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Công T, sinh năm: 1977; Địa chỉ: H tổ A, ấp D, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 45 phút ngày 27/04/2024, Nguyễn Hoài C đang ở trong phòng trọ thuộc dãy nhà trọ số 85/3D ấp D, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thì nghe thấy tiếng nẹt bô xe máy nên đi ra hỏi Lương Văn T1 thì được biết Trần Chí L đi xe máy vào khu phòng trọ và nẹt bô nên giữa C và L xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. C bực tức về phòng trọ của mình lấy 01 con dao tự chế dài khoảng 47 cm chém vào cửa kính trước phòng trọ của L làm 01 con dao tự chế dài khoảng 48 cm (do L treo trong ô cửa sắt) trong cửa kính rơi ra nên C nhặt lấy con dao này cầm 02 con dao trên 02 tay. Lúc này, những người xung quanh khống chế C và tước lấy 02 con dao trên và kêu C đi về phòng. Khi vào phòng C tiếp tục lấy 02 con dao tự chế khác (01 con dao có lưỡi dao có hình hoa văn dài khoảng 32,5cm, 01 con dao cán gỗ màu đen dài khoảng 22 cm có chữ ZEBRA) cầm trên 02 tay quay lại phòng trọ của L. C dùng con dao có lưỡi dao có hình hoa văn chém một nhát vào người L gây thương tích ở tay trái, tay phải, thái dương trái, vai trái thì L bỏ chạy. Anh Nguyễn Công T ở cùng dãy trọ thấy C đuổi chém L nên vào can ngăn thì bị C dùng con dao cán gỗ màu đen đâm vào hông lưng trái gây thương tích. Sau đó, L được đưa đi cấp cứu ở bệnh viện X, T được đưa đi cấp cứu ở bệnh viện H1.

Ngày 28/4/2024, anh Nguyễn Công T đến Công an xã X, huyện H trình báo sự việc.

Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 290/KLTTCT-TTPY.2024 ngày 20/06/2024 của Trung tâm P đối với thương tích của Trần Chí L kết luận:

1. Các kết quả chính:

- Đa vết thương phần mềm đã được điều trị hiện còn các sẹo tại:

+Vùng thái dương trái kích thước 3x0,1cm. Có tỷ lệ 01% (Một phần trăm).

+ Vùng vai trái kích thước 1,7x 0,2cm. Có tỷ lệ 01% (Một phần trăm).

+ Vùng mặt ngoài 1/3 dưới cẳng tay phải kích thước 4x(0,2-0,5)cm. Có tỷ lệ 02% (Hai phần trăm).

- Các thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn, vật có cạnh sắc hoặc vật tày có cạnh phù hợp tác động gây ra.

- Vết thương mặt mu bàn tay trái gây đứt da, đứt gân duỗi ngón III, IV, V, gân duỗi cổ tay trụ, gãy xương bàn III, IV, V đã được điều trị khâu gân, cổ định xương bàn ngón bằng đinh, hiện còn:

+ Một sẹo trùng sẹo mổ kích thước 8,5x0,3cm.

+ Hai sẹo xuyên đinh vùng gốc ngón IV, V kích thước 1x0,1cm mỗi sẹo.

+ Hình ảnh gãy xương đang kết hợp xương trên Xquang.

+ Phù nề nhẹ vùng mu tay và các gân bàn tay trên siêu âm, hạn chế vận động ngón III, IV, V một phần.

+ Mất dẫn truyền nhánh cảm giác bì trụ mu tay trái trên điện cơ đồ.

Có tỷ lệ 29% (Hai mươi chín phần trăm).

Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra.

2. Kết luận:

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Chí L tại thời điểm giám định là 32% (Ba mươi hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

3. Kết luận khác:

- Con dao như Cơ quan điều tra cung cấp có thể gây ra được các thương tích trên.

- Các thương tích trên không nguy hiểm đến tính mạng.

Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 281/KLTTCT-TTPY.2024 ngày 14/06/2024 của Trung tâm P đối với thương tích của Nguyễn Công T kết luận:

1. Các kết quả chính:

- Vết thương phần mềm vùng thắt lưng trái đã được điều trị hiện còn 01 sẹo kích thước 4 x (0,1-03)cm.

2. Kết luận:

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Công T tại thời điểm giám định là 01% (Một phần trăm).

3. Kết luận khác:

- Thương tích trên:

+ Do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.

+ Không nguy hiểm đến tính mạng.

+ Con dao như Cơ quan điều tra cung cấp có thể gây ra được.

Ngày 16/5/2024, anh Nguyễn Công T có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Hoài C. Đến ngày 18/12/2024, anh T có đơn xin rút yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Hoài C.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Nguyễn Hoài C khai nhận nội dung như trên.

Vật chứng thu giữ:

- 01 con dao cán gỗ màu đen dài khoảng 22 cm có chữ ZEBRA, 01 con dao tự chế lưỡi dao có hình hoa văn dài khoảng 32,5 cm, 01 con dao tự chế dài khoảng 47 cm, 01 con dao tự chế dài khoảng 48 cm.

- 01 USB dữ liệu Camera lúc xảy ra vụ việc (không có ghi nhận Nguyễn Hoài C dùng dao gây thương tích cho Trần Chí L, Nguyễn Công T) (lưu cùng hồ sơ).

Về dân sự: Nguyễn Hoài C và gia đình đã bồi thường cho Trần Chí L 18.500.000 đồng, bồi thường cho Nguyễn Công T 2.000.000 đồng. L, T đã làm đơn xin rút yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Hoài C.

Tại Cáo trạng số 54/CT-VKSH.HM ngày 15 tháng 01 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố bị Nguyễn Hoài C về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ quyền công tố, luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Hoài C về tội “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134 điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài C từ 06 năm đến 07 năm tù. Về trách nhiệm dân sự bị hại đã nhận bồi thường và không yêu cầu gì thêm nên đề nghị không xem xét; Xử lý vật chứng: 01 con dao cán gỗ màu đen dài khoảng 22 cm có chữ ZEBRA, 01 con dao tự chế lưỡi dao có hình hoa văn dài khoảng 32,5 cm, 01 con dao tự chế dài khoảng 47 cm, 01 con dao tự chế dài khoảng 48 cm cần tịch thu tiêu hủy.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh; bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình và nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo cũng đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Vào ngày 27/04/2024, tại trước nhà trọ số 85/3D ấp D, xã X, huyện H, TP . Hồ Chí Minh, Nguyễn Hoài C có hành vi dùng dao tự chế chém vào tay trái, vết chém xướt qua thái dương trái và vai trái gây thương tích làm anh L ngã ra và quơ tay phải vào con dao của C đang cầm gây thương tích tay phải với tổng lệ thương tật 32%. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, tang vật thu giữ và các tài liệu khác mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Hoài C phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe người của người khác được pháp luật bảo vệ; Bị cáo nhận thức được mọi hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác đều bị pháp luật trừng trị rất nghiêm khắc. Trong vụ án này do C bực tức Trần Chí L đi xe gắn máy vào khu trọ nẹt bô nên xảy ra cự cãi giữa hai bên, mặc dù đã được can ngăn nhưng C thiếu kiềm chế bản thân nên đã dùng dao gây thương tích cho anh L và cho người can ngăn là anh Nguyễn Công T. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tù tương xứng với tính chất mức độ tội phạm mà bị cáo thực hiện; hậu quả xảy ra và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải bị cáo đã tích cực để bồi thường, bị hại có đơn xin miễn nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, do đó xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Đối với hành vi gây thương tích cho T với thương tích 01%, ngày 18/12/2024, T có đơn xin rút yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Hoài C do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với C về hành vi này.

Xử lý vật chứng:

- 01 con dao cán gỗ màu đen dài khoảng 22 cm có chữ ZEBRA, 01 con dao tự chế lưỡi dao có hình hoa văn dài khoảng 32,5 cm, 01 con dao tự chế dài khoảng 47 cm, 01 con dao tự chế dài khoảng 48 cm cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 USB dữ liệu Camera lúc xảy ra vụ việc (không có ghi nhận Nguyễn Hoài C dùng dao gây thương tích cho Trần Chí L, Nguyễn Công T) (lưu cùng hồ sơ).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài C 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Thời hạn tù tính từ ngày 11/9/2024.

- Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 con dao cán gỗ màu đen dài khoảng 22 cm có chữ ZEBRA, 01 con dao tự chế lưỡi dao có hình hoa văn dài khoảng 32,5 cm, 01 con dao tự chế dài khoảng 47 cm, 01 con dao tự chế dài khoảng 48 cm

(Tất cả các vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 36/QĐ-VKS-HS ngày 31/12/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/01/2025).

- Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

- Áp dụng các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ