- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thân Thị H-Phạm Quốc C"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thân Thị H về việc ly hôn với bị đơn ông Phạm Quốc C.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 141/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25-9-2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Trần Thị Thanh Thuỷ và bà Trần Thị Ngọc
- Thư ký phiên tòa: bà Phùng Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Bùi Thị Phương Uyên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 9 năm 2025 tại Tòa án nhân dân Khu vực 16-Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở 1) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 37/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2025 về việc Tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét 99/2025/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2025/QĐST-DS ngày 05/9/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Thân Thị H, sinh năm 1980; địa chỉ: I khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh). Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: ông Phạm Quốc C, sinh năm 1984; địa chỉ: I khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16 tháng 9 năm 2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Thân Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: bà Thân Thị H kết hôn với ông Phạm Quốc C tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban
1
nhân dân phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 76/2009, quyển số 01 cấp ngày 26/6/2009.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, sau một thời gian chung sống, vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hòa hợp, hai vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, hay cãi vã, vợ chồng sống không hạnh phúc.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung là Phạm Tường V, sinh ngày 15/11/2014. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông C phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn ông Phạm Quốc C: sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và yêu cầu bị đơn có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu của bà Thân Thị H nhưng ông Phạm Quốc C không có ý kiến. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 18/8/2025; tham gia phiên tòa vào ngày 05/9/2025, ngày 25/9/2025 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do; đồng thời cũng không có ý kiến và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì thể hiện việc đồng ý hay không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16-Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn không chấp hành theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về việc vắng mặt của các đương sự: nguyên đơn bà Thân Thị H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn ông Phạm Quốc C đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào ngày 05/9/2025, ngày 25/9/2025 nhưng vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 233, 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.
Về quan hệ hôn nhân: bà Thân Thị H và ông Phạm Quốc C tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 76/2009, quyền số 01 cấp ngày 26/6/2009 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
Nguyên đơn xác định quá trình chung sống, vợ chồng bà H và ông C phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống dẫn đến không thể nói chuyện và chia sẻ với nhau, thường xuyên cãi vã. Cuộc sống hôn nhân ngày càng ngột ngạt, không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, đã triệu tập bị đơn tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông C không đến và cũng không có bất kỳ ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ quan hệ hôn nhân của vợ chồng được. Vì vậy, nếu cứ tiếp tục duy trì tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các đương sự, dó đó, nguyên đơn bà Thân Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Phạm Quốc C là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Tường V, sinh ngày 15/11/2014. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét về mọi mặt của con chưa thành niên. Quá trình tố tụng tại Tòa án ông C vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý chí mong muốn được nuôi con. Trong thời gian trước đây và hiện nay cháu Phạm Tường V được bà H trực tiếp nuôi dưỡng, đồng thời, cháu V có mong muốn được sống chung với mẹ. Nên Hội đồng xét xử giao cháu Phạm Tường V cho bà Thân Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc sau khi ly hôn là ph hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng: bà H tự nguyện không yêu cầu ông Phạm Quốc C phải cấp dưỡng nuôi con; đây là sự tự nguyện của bà H nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: nguyên đơn không yêu cầu Toà án giải quyết.
Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn: chị Thân Thị H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thân Thị H về việc ly hôn với bị đơn ông Phạm Quốc C.
Về quan hệ hôn nhân: bà Thân Thị H được ly hôn ông Phạm Quốc C {theo Giấy chứng nhận kết hôn số 76/2009, quyển số 01 ngày 26/6/2009 do Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là Ủy ban nhân dân phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) cấp}.
Về con chung: ông Phạm Quốc C giao con chung Phạm Tường V, sinh ngày 15/11/2014 cho bà Thân Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Thân Thị H không yêu cầu ông Phạm Quốc C phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, ông Phạm Quốc C và bà Thân Thị H có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: đương sự không yêu cầu giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Thân Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001459 ngày 09/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương (nay là Thi hành án dân sự Thành phố H).
3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 16- TP Hồ Chí Minh; - THADS khu vực 16- TP Hồ Chí Minh; - TAND TP Hồ Chí Minh; - Đương sự; - UBND phường Bình Hòa, TP Hồ Chí Minh; - Lưu: VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Hiền |