vanban.org

Bản án 141/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 27/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a, i khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Đức T phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đức T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Điểm a, i khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 141/2024/HS-ST
Ngày: 27/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Dƣơng Thị Bạn.

2/ Ông Thái Văn Trung.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sao Mai, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 139/2024/TLST- HS ngày 22 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 208/2024/TLST- HS ngày 13 tháng 06 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Đức T, sinh năm 1992 tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi thƣờng trú: Thôn P, xã P, huyện C, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm P (đã chết) và bà Nguyễn Thị B; bị cáo chƣa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/8/2023.

- Bị hại: Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1975; thƣờng trú: Số 416/23/36, D, phƣờng E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Số D, khu phố B, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.

Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Cao Trung S1, sinh năm 1975; thƣờng trú: Số 416/23/36, D, phƣờng E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Số D, khu phố B, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng – là đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 18/9/2023), có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Cao Trung S1, sinh năm 1975; thƣờng trú: Số 416/23/36, D, phƣờng E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Số D, khu phố B, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Phạm Tá Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 19/8/2023, Phạm Đức T thả chó đi vệ sinh thì con chó đến vệ sinh vào thùng xốp trồng cây sả của ông Nguyễn Thanh S đang để trƣớc cửa hàng bán quần áo tại địa chỉ số D, khu phố B, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Thấy vậy, ông S có lời nói qua lại với T dẫn đến cả hai cự cãi nhau. Đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 20/8/2023, T đi ăn về trong tình trạng có uống rƣợu, khi về đến trƣớc cửa hàng bán quần áo của ông S thì dùng tay lấy những thùng trồng cây sả của ông S ném ra đƣờng. Ông S và ông S1 (ngƣời bán hàng cùng ông S) nhìn thấy nên đi ra cự cãi với T. Lúc này, T bực tức nên chạy về quán thịt cầy Nam Định cách đó khoảng 50 mét lấy 01 (một) con dao bằng kim loại dài khoảng 30cm, có lƣỡi dao sắc bén màu đen, cán bằng gỗ rồi quay lại chém 01 nhát trúng vào cẳng tay trái của ông S gây thƣơng tích. Khi thấy ông S bị chém, ông S1 lấy cây đánh trả để khống chế T và cùng ngƣời dân giữ T lại, trình báo cho Công an phƣờng A đến lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ tang vật 01 con dao bằng kim loại, chuyển giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T xử lý.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 680/2023/KLGĐ-TTPY ngày 10/11/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh B kết luận ông Nguyễn Thanh S thƣơng tích nhƣ sau: Vết thƣơng mặt lƣng 1/3 dƣới cẳng tay trái 10x0,1cm, đứt gân duỗi các ngón II, V, gân duỗi cổ tay trụ, đã phẫu thuật khâu nối gân, sẹo lành.

Căn cứ Thông tƣ số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thƣơng cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thƣơng cơ thể của Nguyễn Thanh S tại thời điểm giám định là 02% (Hai phần trăm), áp dụng phƣơng pháp cộng tại Thông tƣ.

Bản Cáo trạng số 130/CT-VKS -TA ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Phạm Đức T về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và xác định: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng nên đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phạm Đức T mức hình phạt từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Thanh S yêu cầu Phạm Đức T phải bồi thƣờng thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm với tổng số tiền 60.000.000 (sáu mƣơi triệu) đồng, hiện tại Phạm Đức T vẫn chƣa bồi thƣờng, tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo đồng ý tự nguyện nhận trách nhiệm bồi thƣờng số tiền trên cho bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) con dao dài 30cm, lƣỡi dao bằng kim loại màu đen mũi vuông, cán dao bằng gỗ do Phạm Đức T sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, tự nguyện nhận trách nhiệm bồi thƣờng cho bị hại số tiền 60.000.000 đồng. Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức đƣợc hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đã rất ăn năn, hối hận và xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình làm ngƣời công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của những ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Đức T phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Dựa vào lời khai của bị cáo, Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 680/2023/KLGĐ-TTPY của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh B, lời khai của bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ngƣời làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 20/8/2023, tại địa chỉ số D, khu phố B, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, Phạm Đức T có hành vi dùng 01 (một) con dao bằng kim loại dài khoảng 30cm, có lƣỡi dao sắc bén màu đen, cán bằng gỗ là hung khí nguy hiểm chém trúng cẳng tay trái của ông Nguyễn Thanh S gây thƣơng tích với tỷ lệ phần trăm tổn thƣơng cơ thể 02% gồm các thƣơng tích: Vết thƣơng mặt lƣng 1/3 dƣới cẳng tay trái 10x0,1cm, đứt gân duỗi các ngón II, V, gân duỗi cổ tay trụ.

Giữa bị cáo T và bị hại S trƣớc đó không có mâu thuẫn gì nhƣng vì một lý do nhỏ nhặt là cự cãi qua lại giữa bị cáo với bị hại mà nguyên nhân xuất phát từ sự việc bị cáo thả chó đi vệ sinh không đúng nơi làm ảnh hƣởng đến khu vực bị hại sinh sống, khi đƣợc nhắc nhở thì bị cáo không chọn cách ứng xử khác phù hợp với đạo đức mà lại có thái độ thách thức, đồng thời dùng dao là hung khí nguy hiểm chém bị hại gây thƣơng tích cho bị hại nhƣ trên. Hành vi của bị cáo Phạm Đức T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo các điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố bị cáo Phạm Đức T về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức đƣợc việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhƣng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của ngƣời khác, gây mất an ninh, trật tự tại địa phƣơng, thể hiện tính chất côn đồ, coi thƣờng pháp luật. Do đó cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm, tƣơng xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Mức đề nghị hình phạt của Kiểm sát viên đối với các bị cáo là phù hợp với hành vi của các bị cáo đã thực hiện.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Thanh S yêu cầu bị cáo Phạm Đức T phải bồi thƣờng thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm tổng số tiền 60.000.000 (sáu mƣơi triệu) đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thƣờng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) con dao dài 30cm, lƣỡi dao bằng kim loại màu đen mũi vuông, cán dao bằng gỗ do Phạm Đức T sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điểm a, i khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Các Điều 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Phạm Đức T phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.

Xử phạt bị cáo Phạm Đức T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/8/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện bị cáo Phạm Đức T bồi thƣờng cho bị hại ông Nguyễn Thanh S số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mƣơi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho ngƣời đƣợc thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao dài 30cm, lƣỡi dao bằng kim loại màu đen mũi vuông, cán dao bằng gỗ.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng tài sản ngày 30/5/2024 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ