vanban.org

Bản án 141/2024/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Tuyết D đối với ông Dương Văn H và bà Trần Thị N về việc “Tranh chấp về hợp đồng góp hụi”.

Buộc ông Dương Văn H và bà Trần Thị N có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Huỳnh Tuyết Duyên s tiền hụi gốc còn nợ lại là 41.100.000 (bốn mươi mốt triệu một trăm nghìn) đồng. Ghi nhận bà D không yêu cầu tính lãi. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xon… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng góp hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Tuyết D đối với ông Dương Văn H và bà Trần Thị N về việc “Tranh chấp về hợp đồng góp hụi”.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141/2024/DS-ST
Ngày: 27/8/2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng góp
hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Lài;

2. Ông Nguyễn Văn Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Khổng Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 261/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên toà số 87/2024/QĐST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Huỳnh Tuyết D, sinh năm 1969; địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh (có mặt).

- Bị đơn: bà Trần Thị N, sinh năm 1968 và ông Dương Văn H, sinh năm 1965; địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh (bà N, ông H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – bà Huỳnh Tuyết D trình bày:

Bà tham gia góp hụi dây hụi 2.000.000 đồng khui ngày 25/7/2022 (âm lịch), hụi khui 01 tháng 1 lần, gồm 22 phần. Dây hụi này chưa mãn, nếu đóng cho đến mãn là vào ngày 25/4/2024 âm lịch. Bà tham gia 01 phần tên trong danh sách hụi là D Tua H1. Bà đã đóng được 15 kỳ hụi. bà không nhớ bà đóng được bao nhiêu tiền hụi vốn góp và lãi suất được hưởng là cụ thể là bao nhiêu do lâu quá rồi, sổ sách theo dõi hụi bà không cung cấp được cho Toà. Dây hụi này bà đóng được 15 kỳ thì bà N tuyên bố bể hụi vào ngày 25/10/2023 (âm lịch). Sau khi bà N tuyên bố bể hụi thì bà và bà N có gặp nhau. Bà N thoả thuận sẽ tính cho bà tiền vốn góp của dây hụi này là 15 x 1.700.000 = 25.500.000 đồng, bà N hứa bán đất sẽ trả cho bà số tiền này.

Bà tham gia góp hụi dây hụi 2.000.000 đồng khui ngày 20/11/2022 (âm lịch), hụi khui 01 tháng 1 lần, gồm 24 phần. Dây hụi này chưa mãn, nếu đóng cho đến mãn là vào ngày 20/10/2024 âm lịch. Bà tham gia 01 phần tên trong danh sách hụi là D Tua H1. Bà đã đóng được 11 kỳ hụi; bà không nhớ bà đóng được bao nhiêu tiền hụi vốn góp và lãi suất được hưởng là cụ thể là bao nhiêu do lâu quá rồi, sổ sách theo dõi hụi bà không cung cấp được cho Toà. Dây hụi này bà đóng được 11 kỳ. Bà N tuyên bố bể hụi vào ngày 25/10/2023 âm lịch. Sau khi bà N tuyên bố bể hụi thì bà và bà N có gặp nhau. Bà N thoả thuận sẽ tính cho bà tiền vốn góp của dây hụi này là 11 kỳ x 1.600.000 = 17.600.000 đồng.

Ngoài 02 dây hụi trên thì bà không tham gia góp dây hụi nào khác do bà N làm chủ hụi. Hiện nay bà không nợ tiền hụi chết của bà N.

Tổng cộng số tiền hụi gốc bà góp cho bà N là 43.100.000 (bốn mươi ba triệu một trăm nghìn) đồng. Sau khi chốt hụi, vào khoảng tháng 12/2023 âm lịch bà N có trả cho bà được số tiền 2.000.000 đồng, mục đích để khấu trừ vào số tiền hụi gốc.

Trong đơn khởi kiện bà yêu cầu bà N, ông H trả cho bà số tiền hụi 50.000.000 đồng. Bà rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của bà đối với bà N, ông H số tiền 8.900.000 đồng. Bà chỉ khởi kiện yêu cầu Trần Thị N và ông Dương Văn H cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền hụi gốc 41.100.000 (bốn mươi mốt triệu một trăm nghìn) đồng, bà không yêu cầu bà N, ông H trả tiền lãi.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn - bà Trần Thị N trình bày:

Bà thừa nhận bà có cho bà D tham gia góp hụi dây hụi 2.000.000 đồng khui ngày 25/7/2022 (âm lịch), hụi khui 01 tháng 1 lần, gồm 22 phần, hụi mãn vào ngày 25/4/2024 âm lịch, bà D tham gia 01 phần, bà D đóng được 15 kỳ hụi sống. Đến ngày 20/10/2023 âm lịch bà ngưng gôm hụi của bà D dây hụi này. Bà và bà D đã gặp nhau và chốt lại số tiền hụi sống bà D góp hụi với bà dây hụi này là 25.500.000 đồng.

Bà thừa nhận bà có cho bà D tham gia góp hụi dây hụi 2.000.000 đồng khui ngày 20/11/2022 (âm lịch), hụi khui 01 tháng 1 lần, gồm 24 phần, hụi mãn vào ngày 20/10/2024 âm lịch, bà D tham gia 01 phần, bà D đóng được 11 kỳ hụi sống. Đến ngày 20/10/2023 âm lịch bà ngưng gôm hụi của bà D dây hụi này. Sau ngày 20/10/2023, bà và bà D đã gặp nhau và chốt lại số tiền hụi sống bà D góp hụi với bà dây hụi này là 17.600.000 đồng.

Tổng cộng số tiền hụi gốc bà D đã góp cho bà là 43.100.000 (bốn mươi ba triệu một trăm nghìn) đồng.

Bà thừa nhận chữ viết trong giấy chốt hụi do bà D cung cấp là của bà.

Sau ngày chốt hụi cho đến ngày 20/11/2023 (âm lịch) bà trả được cho bà Duyên số tiền 5.000.000 đồng, trả tại nhà của bà.

Ngày 25/12/2023 âm lịch bà trả cho bà D được 6.000.000 đồng, trả tại nhà bà.

Ngày 28/02/2024 âm lịch bà trả cho bà D được 2.000.000 đồng trả tại nhà bà.

Tổng cộng bà đã trả cho bà D được số tiền là 13.000.000 (mười ba triệu) đồng.

Bà chỉ đưa tiền cho bà D không lập văn bản giấy tờ gì về việc giao nhận tiền. Bà không cung cấp được chứng cứ chứng minh về việc giao cho bà Duyên số tiền 13.000.000 đồng.

Bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà D buộc bà và ông H có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Duyên số tiền 41.100.000 (bốn mươi mốt triệu một trăm nghìn) đồng. Bà chỉ đồng ý trả cho bà D số tiền 30.100.000 (ba mươi triệu một trăm nghìn) đồng. Lý do bà đã trả cho bà D được 13.000.000 đồng tiền hụi gốc. Bà không yêu cầu ông H có nghĩa vụ liên đới trả nợ cùng bà

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn - ông Dương Văn H trình bày:

Ông và bà Trần Thị N có mối quan hệ là vợ chồng. Ông và bà N sống chung với nhau từ trước năm 1986 đến nay. Ông và bà Huỳnh Tuyết D có mối quan hệ quen biết. Bà D là hụi viên tham gia góp hụi do bà N làm chủ hụi. Bà D và ông không có quan hệ bà con ruột thịt.

Ông thống nhất với toàn bộ lời khai, lời trình bày của bà N trong suốt quá trình giải quyết vụ án về nội dung bà D tham gia góp hụi với bà N.

Ông không đồng ý theo yêu cầu kiện của bà Huỳnh Tuyết D buộc vợ chồng ông có nghĩa vụ liên đới trả tiền số tiền hụi sống 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng. Lý do ông có biết bà N tổ chức hụi tuy nhiên bà N tổ chức bao nhiêu dây hụi và số tiền của mỗi dây hụi như thế nào thì ông không biết. Ông không trực tiếp gôm tiền hụi của các hụi viên, cũng như không nhận tiền hụi của bà D. Ông không có liên quan gì trong việc tổ chức hụi của bà N. Ông không được hưởng lợi ích gì từ việc bà N tổ chức hụi.

Ông hiện nay lớn tuổi ở nhà phụ việc nhà và phụ với con trai thứ 3 trồng cây giống. Bà N tổ chức hụi cách đây khoảng 4 đến 5 năm, lúc đầu thì bà N tổ chức những dây hụi với số tiền hụi khoảng 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng/tháng sau này thì mới tổ chức thêm nhiều dây hụi lớn với số tiền 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng/tháng. Con trai thứ 3 hiện nay sống chung nhà với vợ chồng ông; ông đi làm có thu nhập giao hết tiền cho bà N lo chi tiêu sinh hoạt trong gia đình; hiện nay không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập. Vợ chồng ông không còn vay mượn khoản tiền, tài sản nào khác của bà D.

Tại phiên tòa:

Bà D rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền lãi hụi 8.900.000 đồng, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bà Trần Thị N và ông Dương Văn H có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Duyên số tiền hụi gốc là 41.100.000 (bốn mươi mốt triệu một trăm nghìn) đồng.

Bà Trần Thị N, ông Dương Văn H vắng mặt nên không có lời khai, lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; đương sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 471 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 147, Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27, Điều 30 của Luật Hôn nhân và gia đình; nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, bêu, phường; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Tuyết D. Buộc bà Trần Thị N và ông Dương Văn H có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Duyên số tiền hụi gốc là 41.100.000 (bốn mươi mốt triệu một trăm nghìn) đồng. Ghi nhận bà D không yêu cầu tính lãi.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Tuyết D đối với số tiền 8.900.000 đồng.

Các đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Căn cứ đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hợp đồng góp hụi” được quy định tại khoản 2 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn cư trú tại ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Ông H, bà N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H, bà N.

Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Tuyết D thì thấy rằng: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bà Trần Thị N thừa nhận sau khi tuyên bố bể hụi bà N và bà D có gặp nhau chốt lại số tiền hụi gốc bà D góp được là 43.100.000 đồng. bà N cho rằng đã trả cho bà D được số tiền 13.000.000 đồng. Bà D không thừa nhận việc bà N trả có bà số tiền 13.000.000 đồng, bà D chỉ thừa nhận sau khi chốt hụi bà N trả cho bà được số tiền 2.000.000 đồng, đồng ý khấu trừ số tiền 2.000.000 đồng vào số tiền hụi gốc bà đã góp cho bà N.

Bà N cho rằng đã trả cho bà D được số tiền 13.000.000 đồng sau khi chốt hụi nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ chấp nhận lời trình bày của bà N về việc đã trả số tiền 13.000.000 đồng sau khi chốt hụi. Có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà D đối với số tiền hụi gốc bà N còn nợ lại là 41.100.000 (bốn mươi mốt triệu một trăm nghìn) đồng.

Bà N cho rằng bà làm hụi riêng, thu nhập có được từ việc làm thảo hụi bà dùng để khám chữa bệnh cho bản thân và đóng hụi thay cho các hụi viên đã hốt (lĩnh) hụi nhưng không đóng hụi chết. Ông Dương Văn H không liên quan đến giao dịch hụi giữa bà với bà D. Bà không yêu cầu ông H có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho bà D cùng bà.

Đối với ông Dương Văn H: Quá trình giải quyết vụ án ông H trình bày ông không liên quan đến việc giao dịch hụi giữa bà N với bà D, nên không đồng ý có nghĩa vụ liên đới cùng bà N trả tiền theo yêu cầu của bà D

Trong quá trình giải quyết vụ án bà N, ông H đều khai việc lo các chi phí sinh hoạt trong gia đình là do bà N lo liệu, ông H và các con đi làm về giao tiền cho bà N chi tiêu. Hiện nay ông H và các con sống chung nhà với bà N, các khoản chi tiêu sinh hoạt là sinh hoạt chung do đó tiền hoa hồng bà N kiếm được từ việc tổ chức hụi đều nhằm mục đích chi tiêu sinh hoạt chung trong gia đình. Đồng thời bà N dùng tiền tổ chức hụi để chàng hụi cho các hụi viên khác đã hốt hụi nhưng không đóng hụi chết và đi khám chữa bệnh cho bà N. Ông H biết việc bà N tổ chức hụi nhưng không phản đối.

Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy có cơ sở kết luận giao dịch góp hụi giữa bà D với bà N là giao dịch dân sự hợp pháp. Việc bà N tham gia hụi với tư cách là chủ hụi nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu trong việc chi tiêu sinh hoạt trong gia đình và khám chữa bệnh cho bản thân. Xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà D là có căn cứ, nên chấp nhận yêu cầu của bà D. Buộc ông Dương Văn H và bà Trần Thị N có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Duyên số tiền hụi gốc còn nợ lại là 41.100.000 (bốn mươi mốt triệu một trăm nghìn) đồng.

Quá trình giải quyết vụ án bà D rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền lãi hụi là 8.900.000 đồng, Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa, xét thấy: Đây là đề nghị có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Ông Dương Văn H và bà Trần Thị N phải chịu 5% án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Tuyết D được Tòa án chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 471 của Bộ luật Dân sự; Điều 147, Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27, Điều 30 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, bêu, phường; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Tuyết D đối với ông Dương Văn H và bà Trần Thị N về việc “Tranh chấp về hợp đồng góp hụi”.

Buộc ông Dương Văn H và bà Trần Thị N có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Huỳnh Tuyết Duyên s tiền hụi gốc còn nợ lại là 41.100.000 (bốn mươi mốt triệu một trăm nghìn) đồng. Ghi nhận bà D không yêu cầu tính lãi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Tuyết D đối với số tiền 8.900.000 (tám triệu chín trăm nghìn) đồng.

3. Về án phí:

Ông Dương Văn H và bà Trần Thị N có nghĩa vụ liên đới chịu 2.055.000 (hai triệu không trăm năm mươi lăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Huỳnh Tuyết D không phải chịu án phí. Bà Huỳnh Tuyết D được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.250.000 (một triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng theo biên lai thu số 0009280 ngày 28/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Bà D có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bà N, ông H có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ