vanban.org

Bản án 141/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 05/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Thanh M phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 08/4/2023. Biện pháp tƣ pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị Thanh Mỹ - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 34…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Thanh M phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141/2023/HSST
Ngày 05/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mai.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trƣơng Vĩnh Mai

Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Sim - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Lệ Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 119/2023/HSST ngày 27 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 135/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Thị Thanh M ; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 15/4/1988; Tại: Tỉnh Bình Định.

Nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: Tổ 7, khu vực 2, phƣờng T, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

Nơi đăng ký tạm trú: Tổ dân phố 1, phƣờng K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Chỗ ở hiện tại: 42 M, phƣờng E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Phạm Đoàn V, Con bà: Võ Thị D; Bị cáo từng chung sống nhƣ vợ chồng với: Hoàng G; có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 31/5/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 04 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, về tội Đánh bạc.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại nhà tạm giữ công an thành phố Buôn Ma Thuột, kể từ ngày 08/4/2023 cho đến nay – có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Phi H địa chỉ: Số 229 đƣờng P, phƣờng T,thành phố B , tỉnh Đắk Lắk.(Vắng mặt)

-Người làm chứng:

+ Chị Võ Thị D ; địa chỉ: Số 54 đƣờng Trần Phú, phƣờng Thắng Lợi, tỉnh Đắk Lắk.(Vắng mặt)

+ Ông Trƣơng Công C ; địa chỉ: Số 54/5 đƣờng Nguyễn Trung Trực, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Tháng 3/2022, Phạm Thị Thanh M nhận chuyển nhƣợng thửa đất số 403, tờ bản đồ số 78, diện tích 230,8m2, địa chỉ thửa đất: Phƣờng K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 082040, mã vạch 2415421012273, từ bà Lê Thị Thanh N , sinh năm: 1978, trú tại: Tổ dân phố 1, Phƣờng K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Ngày 21/6/2022, M chuyển nhƣợng thửa đất trên cho anh Phan Văn V, sinh năm: 1994, trú tại: Tổ dân phố 4, phƣờng T, thành phố B,tỉnh Đắk Lắk và đƣợc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Buôn Ma Thuột xác nhận. M đã giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên cho anh V nhận quản lý, sử dụng. Đến tháng 9/2022, do cần tiền tiêu xài nên M nảy sinh ý định làm giả 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giống với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên để thế chấp vay tiền. M lên mạng Google tìm kiếm nội dung “Đặt làm sổ đỏ” thì hiện lên nhiều trang Web nhận làm giả giấy tờ và có kèm số điện thoại để liên hệ. M sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, không rõ dung lƣợng, gắn sim số 0941xxxxxx liên hệ số điện thoại trên trang Web và đặt làm giả 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 082040, mã vạch 2415421012273, số vào sổ CS-23086, với giá 9.000.000 đồng. M gửi thông tin hình ảnh của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 082040, mã vạch 2415421012273 qua và sau 01 tuần, M nhận đƣợc giấy tờ giả qua nhân viên giao hàng và đƣa số tiền 9.000.000 đồng cho nhân viên. Đến tháng 10/2022, M hỏi ngƣời quen có ai nhận cầm cố sổ đỏ không thì đƣợc giới thiệu đến gặp ông Nguyễn Phi H (là Giám đốc Công ty TNHH H). Khoảng 16 giờ ngày 06/10/2022, M đi đến Công ty TNHH H ở địa chỉ: 54 T, phƣờng T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, gặp ông Hnhờ tƣ vấn làm thủ tục vay vốn ngân hàng. Do đã gần hết giờ hành chính nên ông H đề nghị M sáng hôm sau quay lại thì M lấy lý do cần tiền gấp nên đƣa ra Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 082040, mã vạch 2415421012273, mang tên Lê Thị Thanh N, biến động sang tên bà Phạm Thị Thanh M là giả, cho ông H và đề nghị ông Hải cho vay 100.000.000 đồng và thế chấp cho ông HGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên. Do thấy M có nhiều nghi vấn nên ông H giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên cho Chị Võ Thị D , là kế toán của Công ty TNHH H, mang đến Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để kiểm tra pháp lý. Sau khi kiểm tra hồ sơ, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B nhận thấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 082040 có dấu hiệu bị làm giả nên đã tiến hành lập biên bản làm việc, tạm giữ và bàn giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên đến Công an thành phố Buôn Ma Thuột để xử lý.

Tại Kết luận giám định số 1098/KL-KTHS ngày 11/11/2022 của Phòng PC09 Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận:

- GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở GẮN LIỀN VỚI ĐẤT số DB 082040, mang tên Lê Thị Thanh N (ký hiệu A1) là giả.

- Chữ ký mang tên Phan Khắc H trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ ký mang tên Phan Khắc H trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M3, không phải do cùng một ngƣời ký ra.

- Chữ ký mang tên Hoàng Xuân P trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ ký mang tên Hoàng Xuân P trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M3, không phải do cùng một ngƣời ký ra.

- Hình dấu tròn có nội dung “SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƢỜNG  TỈNH ĐẮK LẮK  CỘNG HÒA XHCN VIỆT NAM” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với hình dấu tròn có nội dung “SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƢỜNG  TỈNH ĐẮK LẮK  CỘNG HÒA X.H.C.N VIỆT NAM” trên tài liệu so sánh ký hiệu M3, không phải do cùng một con dấu đóng ra.

- Hình dấu tròn có nội dung “CHI NHÁNH VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI THÀNH PHỐ QUI NHƠN  VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI TỈNH ĐẮK LẮK” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với hình dấu tròn có nội dung “CHI NHÁNH VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT  VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI TỈNH ĐẮK LẮK” trên tài liệu so sánh ký hiệu M2, không phải do cùng một con dấu đóng ra.

Tại bản cáo trạng số 140/CT-VKS ngày 27 tháng 4 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột đã truy tố bị cáo Phạm Thị Thanh M về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo nhƣ bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Thị Thanh M từ 09- 12 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 082040, mang tên Lê Thị Thanh N . Quá trình điều tra, xác định Giấy chứng nhận trên là giả nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, không rõ dung lƣợng, gắn sim số 0941xxxxxx mà bị cáo Phạm Thị Thanh M đã sử dụng để liên lạc với ngƣời làm giả Giấy chứng nhận trên: Quá trình điều tra, bị cáo Phạm Thị Thanh M khai nhận bị cáo đã làm mất chiếc điện thoại di động trong quá trình bỏ trốn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không tạm giữ, xử lý đƣợc.

Đối với hành vi mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 082040, mang tên Lê Thị Thanh N , là giả, thế chấp cho ông Nguyễn Phi H để vay số tiền 100.000.000 đồng của bị cáo Phạm Thị Thanh M : Do ông Nguyễn Phi H nghi ngờ nên không đồng ý cho vay mà đem Giấy chứng nhận trên đi kiểm tra pháp lý. Bị cáo Phạm Thị Thanh M chƣa chiếm đoạt đƣợc số tiền 100.000.000 đồng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột không đề cập xử lý.

Đối với ngƣời đƣợc bị cáo Phạm Thị Thanh M thuê làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 082040, mang tên Lê Thị Thanh N và nhân viên bƣu điện giao Giấy chứng nhận giả trên cho bị cáo Phạm Thị Thanh M : Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã tiến hành điều tra nhƣng chƣa xác định đƣợc nhân thân, lai lịch nên đã tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Tại phiên toà, bị cáo Phạm Thị Thanh M khai nhận hành vi phạm tội đúng nhƣ lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ bản cáo trạng đã truy tố là đúng, bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới. Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Tp. Buôn Ma Thuột, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong qúa trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo, ngƣời liên quan, ngƣời làm chứng, vật chứng đã thu giữ; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã đƣợc thu thập có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, diễn biến hành vi bị cáo đã thực hiện, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Sau khi đặt làm giả đƣợc 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 082040, thửa đất 403, tờ bản đồ 78 tại phƣờng K, thành phố B mang tên Lê Thị Thanh N , biến động sang tên Phạm Thị Thanh M của đối tƣợng không rõ nhân thân lai lịch. Vào ngày 06/10/2022, tại địa bàn thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Phạm Thị Thanh M đã có hành vi sử dụng 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là giả trên đến gặp ông Nguyễn Phi Hải để thế chấp cho ông Hải nhằm vay số tiền 100.000.000 đồng nhƣng ông Hải chƣa cho bị cáo vay thì bị phát hiện và xử lý. Hành vi của bị cáo Phạm Thị Thanh M đã phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố bị cáo nhƣ nội dung bản cáo trạng là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Điều 341 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.

Xét tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là công dân có đủ nhận thức và phải biết việc sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là vi phạm pháp luật. Nhƣng do ý thức coi thƣờng pháp luật, coi thƣờng trật tự quản lý hành chính, quyền sở hữu tài sản của ngƣời khác và muốn có tiền để tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là giả để thực hiện hành vi trái pháp luật thì bị phát hiện. Do đó, cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tƣơng xứng với hành vi của bị cáo thì mới đảm bảo phát huy tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, về hành vi phạm tội của mình, bị cáo hiện nay một mình nuôi 02 con nhỏ và hoàn cảnh gia đình khó khăn nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nƣớc ta.

Xét tính chất của vụ án, hành vi của bị cáo nhƣ đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng trừng trị, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo; đồng thời đủ sức răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

Biện pháp tƣ pháp:

Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 082040, thửa đất 403, tờ bản đồ 78 tại phƣờng K , thành phố B mang tên Lê Thị Thanh N , biến động sang tên Phạm Thị Thanh M . Quá trình điều tra, xác định Giấy chứng nhận trên là giả nên lƣu trong hồ sơ vụ án.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, không rõ dung lƣợng, gắn sim số 0941xxxxxx mà bị cáo Phạm Thị Thanh M đã sử dụng để liên lạc với ngƣời làm giả Giấy chứng nhận trên: Quá trình điều tra, bị cáo Phạm Thị Thanh M khai nhận bị cáo đã làm mất chiếc điện thoại di động trong quá trình bỏ trốn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không tạm giữ, xử lý đƣợc.

Về hành vi khác:

Đối với hành vi mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 082040 là giả, mục đích thế chấp cho ông Nguyễn Phi Hải để vay số tiền 100.000.000 đồng của bị cáo Phạm Thị Thanh M , do ông Nguyễn Phi H nghi ngờ nên không đồng ý cho bị cáo vay tiền nên bị cáo chƣa chiếm đoạt đƣợc số tiền 100.000.000 đồng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột không đề cập xử lý đối với hành vi này của bị cáo là phù hợp.

Đối với ngƣời đƣợc bị cáo Phạm Thị Thanh M thuê làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhân viên bƣu điện giao Giấy chứng nhận giả trên cho bị cáo Phạm Thị Thanh M : Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã tiến hành điều tra nhƣng chƣa xác định đƣợc nhân thân, lai lịch nên đã tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự;

1.Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Thanh M phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Thị Thanh M 09 tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 08/4/2023.

2. Biện pháp tƣ pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột không đề cập xử lý đối với hành vi của bị cáo mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 082040 giả, mục đích thế chấp cho ông Nguyễn Phi H để vay số tiền 100.000.000 đồng nhƣng ông H chƣa cho bị cáo vay tiền nên bị cáo chƣa chiếm đoạt đƣợc số tiền 100.000.000 đồng.

- Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau đối với ngƣời đƣợc bị cáo Phạm Thị Thanh M thuê làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhân viên bƣu điện giao Giấy chứng nhận giả trên cho bị cáo Phạm Thị Thanh M do chƣa xác định đƣợc nhân thân, lai lịch.

- Lƣu trong hồ sơ vụ án 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB 082040, mang tên Lê Thị Thanh N , biến động sang tên Phạm Thị Thanh M .

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Phạm Thị Thanh M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ