- Tranh chấp gì? án hình sự — "141 Ngày 12-9-23 Trần Hoàng P 173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Hoàng P 01 (một) năm tù, về tội “Trộm cắp tài sảnThời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/4/2023.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 141/2023/HS-ST Ngày 12 - 9 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đặng Thị Huê
2. Bà Đặng Thu Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 121HS ngày 19 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:
Trần Hoàng P; sinh năm 1996, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú (nơi đăng ký thường trú: 15/104D/10 đường H, Phường C, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Hoàng K và bà Trần Kim A; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 05/5/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra , tỉnh Đồng Nai ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với Trần Hoàng P về hành vi “Trộm cắp tài sản” thực hiện ngày 25/4/2023 tại Khu phố B, phường B1, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai từ ngày 25/4/2023 đến nay. (có mặt)
- Bị hại: Anh Phan Hồng Hoài P1, sinh năm: 1991; nơi cư trú (nơi đăng ký thường trú: 15/88 đường B, Phường C, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 29 đường Q, Phường B, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh). (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Hồ Thu T, sinh năm: 1980, hộ khẩu thường trú: 6D7 Ấp F, xã P, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 11/12/2022, Trần Hoàng P đang ở nhà thì bạn của P tên là G (không rõ lai lịch) gọi điện thoại cho P từ số điện thoại 0899089927 đến số điện thoại 0909072609 của P rủ P đi trộm cắp tài sản của người khác đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, P đồng ý. Ba Giá điều khiển xe gắn máy hiệu Nouvo, biển số 55N6-3295 (xe của P cho G mượn trước đó) đến nhà P đưa xe cho P để P chở G chạy đi tìm tài sản lấy trộm. Trên đường đi, P và G thống nhất với nhau sẽ trộm tiền tại các tiệm tạp hóa, nhiệm vụ của P là giả vờ mua hàng để tạo sự chú ý nhằm đánh lạc hướng người bán hàng, còn G lợi dụng sơ hở lẻn vào lấy trộm tiền và tài sản khác.
Khi P và G đi đến trước tiệm tạp hóa đường Q, Phường B, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh thì G phát hiện chỉ có một mình anh Phan Hồng Hoài P1 đang đứng bán hàng nên G chỉ cho P thấy và kêu P vòng xe lại dừng cách tiệm khoảng 10 mét. Ba Giá đi bộ một mình vào tiệm giả vờ mua hàng nhằm mục đích để biết chủ tiệm cất tiền ở đâu. Khi thấy G sắp mua hàng xong thì P cũng chạy xe đến đậu trước cửa tiệm giả vờ mua hàng. Lúc đó, P vẫn nổ máy xe để chuẩn bị chở G tẩu thoát sau khi lấy trộm được tiền. Tại đây, P kêu anh P1 bán 03 lon bia Tiger và 01 gói thuốc lá JET. Trong lúc anh P1 đang lấy bia và thuốc lá đem ra cho P thì G lợi dụng sơ hở lẻn vào trong nhà lấy trộm tiền của anh P1. Lúc này, anh P1 đang đếm tiền mua hàng của P rồi quay lại thì phát hiện G đang trộm tiền và thẻ cào điện thoại nên la lên rồi chạy lại bắt G. Thấy vậy, P dùng tay kéo áo anh P1 lại để tạo điều kiện cho G bỏ chạy nhưng anh P1 vùng ra được. Anh P1 và G giằng co vật lộn với nhau gần trước cửa tiệm khiến G làm rơi nhiều tiền và thẻ cào điện thoại vừa lấy trộm được xuống đất, anh P1 nắm giữ áo của G đang mặc thì G lột bỏ áo lại và chạy bộ tẩu thoát. P thấy vậy liền tăng ga định bỏ chạy thì bị anh P1 vật ngã xuống đất và cùng quần chúng nhân dân khống chế P đưa P và vật chứng về trụ sở Công an Phường 2, Quận 8 lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang.
Tại cơ quan điều tra, anh Phan Hồng Hoài P1 khai xác định tổng giá trị tài sản bị mất trộm là 10.980.000 đồng, trong đó gồm: Tiền Việt Nam 5.000.000 đồng và 5.980.000 đồng giá trị thẻ cào điện thoại các loại. Sau khi bị G lấy trộm thì anh P1 và G giằng co gần trước cửa tiệm khiến G làm rơi tiền và thẻ cào điện thoại vừa lấy trộm được xuống đường. Lúc này, có nhiều người dân đi ngang (không rõ lai lịch) đã nhặt được tiền và thẻ cào mang trả lại cho anh P1 nhưng cũng có người lấy bỏ đi luôn. Qua kiểm tra chỉ thu hồi lại được số tiền 1.600.000 đồng và số thẻ cào trị giá 790.000 đồng (nhiều mệnh giá và nhiều nhà mạng khác nhau).
Ngày 14/12/2022, Hội đồng định giá tài sản Quận 8 có kết luận định giá tài sản, xác định trị giá số thẻ cào điện thoại bị mất trộm nêu trên là 5.980.000 đồng.
Ngày 10/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Trần Hoàng P về hành vi Trộm cắp tài sản. Tại cơ quan điều tra, P khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.
Khi được cho tại ngoại điều tra, ngày 25/4/2023 Trần Hoàng P thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản tại Khu phố B, phường B1, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Nên ngày 05/5/2023, Trần Hoàng P bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 10/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho anh Phan Hồng Hoài P1 gồm: tiền Việt Nam: 1.600.000 đồng; 24 thẻ cào điện thoại Mobifone, 04 thẻ cào điện thoại VinaPhone, 02 thẻ cào điện thoại Vietnamobile, 13 thẻ cao điện thoại Viettel.
Về vật chứng vụ án:
- Ngày 15/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 có yêu cầu gửi đến công ty D yêu cầu xác minh số điện thoại 0899089927 nhưng đến nay chưa nhận được kết quả trả lời.
- 01 xe gắn máy hiệu Nouvo, màu đỏ đen, biển số: 55N6-3295. P khai xe gắn máy trên mua của một người đàn ông không rõ lai lịch. Qua giám định xe biển số: 55N6-3295 có số khung, số máy không thay đổi. Qua xác minh được biết người đứng tên xe biển số: 55N6-3295 là bà Hồ Thu T, sinh năm: 1980, hộ khẩu thường trú: 6D7 ấp F xã P, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua xác minh hiện bà T không có mặt ở địa phương, đi đâu không rõ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã đề nghị đăng báo tìm chủ sở hữu xe gắn máy biển số 55N6-3295.- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 gắn sim số 0909072609 của P có dùng liên lạc rủ G đi trộm cắp tài sản.
- 01 áo khoác sơ mi hiệu H H màu xám đen, 01 chiếc dép màu xanh (là đồ vật đối tượng Ba Giá để lại hiện trường).
Dữ liệu điện tử: 01 USB hiệu Kingston màu xanh, dung lượng 04GB chứa dữ liệu hình ảnh camera ghi nhận hình ảnh anh P1 cùng quần chúng nhân dân khống chế bắt giữ Trần Hoàng P tham gia trộm cắp tài sản của anh P1 vào ngày 11/12/2022, tại tiệm tạp hóa số B T, Phường B, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Phan Hồng Hoài P1 yêu cầu bị cáo Trần Hoàng P bồi thường số tiền 8.590.000 đồng là số tiền và giá trị thẻ cào bị mất không thu hồi lại được.
Tại bản Cáo trạng số 118/CT-VKSQ8 ngày 07/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Trần Hoàng P về tội “Trộm cắp tài sảntheo khoản 1 Điều 173Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Hoàng P về tội “Trộm cắp tài sảnSau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm 03 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị hại. Về xử lý vật chứng thu giữ: Đề nghị tiếp tục đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp của 01 xe gắn máy hiệu Nouvo, màu đỏ đen, biển số 55N6-3295 trong thời hạn 01 năm, hết thời hạn trên không có người nhận hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 gắn sim số 0909072609; tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác sơ mi hiệu H H màu xám đen, 01 chiếc dép màu xanh; tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB hiệu Kingston màu xanh, dung lượng 04GB.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định vào khoảng 14 giờ 15 phút, ngày 11/12/2022, tại tiệm tạp hóa đường Q, Phường B, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Trần Hoàng P cùng đối tượng tên G (không rõ lai lịch) có hành vi lén lút chiếm đoạt các thẻ cào điện thoại và tiền với tổng trị giá là 10.980.000 đồng của anh Phan Hồng Hoài P1.
Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Trộm cắp tài sản” như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Trần Hoàng P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.
Khi được cho tại ngoại điều tra, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai bắt, ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp tạm giam. Điều này cho thấy thái độ chấp hành pháp luật bị cáo chưa tốt, do đó Hội đồng xét xử cũng xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 8.590.000 đồng là trị giá tài sản bị chiếm đoạt nhưng không thu hồi được. Xét thấy, đây là thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra đối với bị hại, đến nay bị cáo vẫn chưa bồi thường. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền này theo yêu cầu của bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng:
- 01 xe gắn máy hiệu Nouvo, màu đỏ đen, biển số 55N6-3295 tạm giữ của bị cáo, do chưa xác định được chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp của xe. Nên cần tiếp tục đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp xe trên trong thời hạn 01 năm, hết thời hạn trên không có người nhận hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 gắn sim số 0909072609 của bị cáo P có dùng liên lạc rủ đi trộm cắp tài sản nên nên căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- 01 áo khoác sơ mi hiệu H H màu xám đen, 01 chiếc dép màu xanh (là đồ vật đối tượng Ba Giá để lại hiện trường) xét không có giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Dữ liệu điện tử: 01 USB hiệu Kingston màu xanh, dung lượng 04GB chứa dữ liệu hình ảnh camera ghi nhận hình ảnh anh P1 cùng quần chúng nhân dân khống chế bắt giữ Trần Hoàng P tham gia trộm cắp tài sản của anh P1 do anh Hồ Minh Đ giao nộp, đang lưu trữ theo hồ sơ vụ án, anh Đ không yêu cầu nhận lại. Xét đây là chứng cứ có giá trị chứng minh tội phạm, nên tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
Đối với đối tượng tên G cùng có hành vi trộm cắp tài sản với bị cáo P, do không xác định được lai lịch, Cơ quan điều tra không có cơ sở xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại các điều 23, 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Trần Hoàng P 01 (một) năm tù, về tội “Trộm cắp tài sảnThời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/4/2023.
- Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và các điều 357, 468, 584 và 589 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Trần Hoàng P bồi thường cho bị hại Phan Hồng Hoài P1 số tiền 8.590.000 (tám triệu năm trăm chín mươi ngàn) đồng. Thi hành khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Cơ quan Thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chưa thi hành đầy đủ khoản tiền bồi thường thiệt hại về tài sản theo mức nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
- Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các điều 221, 228 Bộ luật Dân sự.
Tiếp tục tạm giữ và đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng thời hạn 01 năm để tìm chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp của 01 xe gắn máy hiệu Nouvo, màu đỏ đen, biển số55N6-3295, số khung: Y-235811, số máy: P11-235812. Nếu hết thời hạn trên không tìm được chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, có số Imei 35 837206 907888 0, bên trong có gắn 01 sim ĐTDĐ số điện thoại 0909072609.
Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác sơ mi hiệu H H màu xám đen, 01 chiếc dép màu xanh.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/5/2023)
- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Trần Hoàng P nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 429.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKS ND Quận 8; - VKS ND TP. HCM; - CQ ĐT CA Quận 8; - CQ THA HS CA Quận 8; - Nhà tạm giữ CA Quận 8; - Chi cục THA DS Quận 8; - Người tham gia tố tụng khác; - TA ND TP. HCM; - Sở Tư pháp TP. HCM; - PC53 - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phúc |