vanban.org

Bản án 141/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 15/02/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đào Ngọc Kim Y đối với bị đơn ông Nguyễn Quang A:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đào Ngọc Kim Y ly hôn ông Nguyễn Quang A. Giấy chứng nhận kết hôn số 190 ngày 23/12/2019 do Ủy ban nhân dân phường LĐ, quận TĐ, Thành phố H cấp cho bà Đào Ngọc Kim Y và ông Nguyễn Quang A không còn giá trị pháp lý kể từ ngày Bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đào Ngọc Kim Y đối với bị đơn ông Nguyễn Quang A:
  • Căn cứ chính? Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 15-02-2023
V/v Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Trịnh Minh Đức

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Thanh;

2. Ông Trần Văn Triều.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Viết Nhiên – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thúy Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 15/02/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 291/2021/TLST-HNGĐ ngày 28/12/2021 về việc “Ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đào Ngọc Kim Y, sinh năm 1993

Hộ khẩu thường trú: Số 15/14 đường HHT, Phường X, quận TB, Thành phố H.

Địa chỉ cư trú hiện nay: Số 50/1/2 đường GD, phường TQ, quận TP, Thành phố H.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Quang A, sinh năm 1989

Hộ chiếu số: xxxxxxxx, do Cục QLXNC Việt Nam cấp ngày 15/01/2021.

Địa chỉ cư trú tại Vương Quốc Anh: 48 Halsbury Road, Liverpool, L6 6DQ, United Kingdom.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản khai, bà Đào Ngọc Kim Y trình bày:

Bà Đào Ngọc Kim Y và ông Nguyễn Quang A tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường LĐ, quận TĐ, Thành phố H theo giấy chứng nhận kết hôn số 190 ngày 23/12/2019.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã nhau khiến cho cuộc sống vợ không đem lại hạnh phúc, đến năm 2021 vợ chồng ly thân nhau, sau đó ông Nguyễn Quang A xuất cảnh ra nước ngoài làm việc và sinh sống, bà Đào Ngọc Kim Y cùng con sinh sống tại Việt Nam. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không đem lại hạnh phúc, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Đào Ngọc Kim Y yêu cầu được ly hôn ông Nguyễn Quang A.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Minh T, sinh ngày 27/4/2021, hiện nay trẻ Minh T đang sống chung với bà Đào Ngọc Kim Y. Bà Đào Ngọc Kim Y yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu ông Nguyễn Quang A cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Đối với ông Nguyễn Quang A:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân Thành phố H đã tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, ngày mở phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa xét xử vụ án dân sự sơ thẩm số 688/TB-TA ngày 20/01/2022 cho ông Nguyễn Quang A theo quy định của pháp luật.

Đến ngày mở phiên tòa, Tòa án nhân dân Thành phố H không nhận được văn bản của Đại sứ quán Việt Nam tại Vương Quốc Anh về kết quả tống đạt văn bản nêu trên, cũng như không nhận được lời khai, tài liệu, chứng cứ của ông Nguyễn Quang A và ông Nguyễn Quang A vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Ngày 06/10/2022, Tòa án nhân dân Thành phố H đã có Công văn số 725/TATP-TGĐVNCTN gửi Đại sứ quán Việt Nam tại Vương Quốc Anh với nội dung đề nghị Đại sứ quán Việt Nam tại Vương Quốc Anh thông báo kết quả ủy thác tư pháp đối với ông Nguyễn Quang A, quốc tịch Việt Nam, cư trú tại địa chỉ 48 Halsbury Road, Liverpool, L6 6DQ, United Kingdom. Tuy nhiên, đến ngày xét xử sơ thẩm hôm nay, Tòa án nhân dân Thành phố H không nhận được văn bản về kết quả thực hiện ủy thác tư pháp của Đại sứ quán Việt Nam tại Vương Quốc A; ông Nguyễn Quang A cũng vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bà Đào Ngọc Kim Y có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Quang A vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với các đương sự vắng mặt, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng.

Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa bà Đào Ngọc Kim Y và ông Nguyễn Quang A không còn tồn tại, mỗi người sinh sống một nơi, không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, không có sự chia sẻ, thực hiện các công việc trong một gia đình; khả năng đoàn tụ không có. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Đào Ngọc Kim Y ly hôn ông Nguyễn Quang A; Về con chung: 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Minh T, sinh ngày 27/4/2021, hiện nay trẻ Minh T chỉ 22 tháng tuổi, đang sống chung với bà Đào Ngọc Kim Y, cần sự chăm sóc của người mẹ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Đào Ngọc Kim Y giao con chung cho bà Đào Ngọc Kim Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con bà Đào Ngọc Kim Y không yêu cầu ông Nguyễn Quang A cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết; Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố H, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Đào Ngọc Kim Y yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Nguyễn Quang A, đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn theo yêu cầu của một bên” theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thuộc trường hợp “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Nguyễn Quang A đang cư trú tại nước Vương Quốc Anh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên Tòa án nhân dân Thành phố H theo quy định tại Điều 35, Điều 37, Điều 38, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Xét sự vắng mặt của nguyên đơn bà Đào Ngọc Kim Y và bị đơn ông Nguyễn Quang A tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn bà Đào Ngọc Kim Y có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Quang A:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân Thành phố H đã tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, ngày mở phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa xét xử vụ án dân sự sơ thẩm số 688/TB-TA ngày 20/01/2022 cho ông Nguyễn Quang A theo quy định của pháp luật.

Đến ngày mở phiên tòa, Tòa án nhân dân Thành phố H không nhận được văn bản của Đại sứ quán Việt Nam tại Vương Quốc Anh về kết quả tống đạt văn bản nêu trên, cũng như không nhận được lời khai, tài liệu, chứng cứ của ông Nguyễn Quang A và ông Nguyễn Quang A vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Ngày 06/10/2022, Tòa án nhân dân Thành phố H đã có Công văn số 725/TATP-TGĐVNCTN gửi Đại sứ quán Việt Nam tại Vương Quốc Anh với nội dung đề nghị Đại sứ quán Việt Nam tại Vương Quốc Anh thông báo kết quả ủy thác tư pháp đối với ông Nguyễn Quang A, quốc tịch Việt Nam, cư trú tại địa chỉ 48 Halsbury Road, Liverpool, L6 6DQ, United Kingdom. Tuy nhiên, đến ngày xét xử sơ thẩm hôm nay, Tòa án nhân dân Thành phố H không nhận được văn bản về kết quả thực hiện ủy thác tư pháp của Đại sứ quán Việt Nam tại Vương Quốc A; ông Nguyễn Quang A cũng vắng mặt không có lý do.

Căn cứ Điều 227, Điều 228, Khoản 4 và Khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đào Ngọc Kim Y đối với bị đơn ông Nguyễn Quang A, xét thấy:

Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đào Ngọc Kim Y đã cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình; đối với bị đơn ông Nguyễn Quang A vắng mặt không có lý do nên được xem bị đơn ông Nguyễn Quang A từ bỏ nghĩa vụ chứng minh theo qui định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn bà Đào Ngọc Kim Y cung cấp và Tòa án thu thập để xét xử vụ án.

Quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 190 ngày 23/12/2019 do Ủy ban nhân dân phường LĐ, quận TĐ, Thành phố H cấp cho bà Đào Ngọc Kim Y và ông Nguyễn Quang A, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân bà Đào Ngọc Kim Y và ông Nguyễn Quang A là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bà Đào Ngọc Kim Y yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Quang A với lý do sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã nhau khiến cho cuộc sống vợ không đem lại hạnh phúc, đến năm 2021 vợ chồng ly thân nhau, sau đó ông Nguyễn Quang A xuất cảnh ra nước ngoài làm việc và sinh sống, bà Đào Ngọc Kim Y cùng con sinh sống tại Việt Nam. Đối với ông Nguyễn Quang A, Tòa án đã tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp đúng quy định của pháp luật nhưng ông Nguyễn Quang A không có phản hồi, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy, tình nghĩa vợ chồng giữa bà Đào Ngọc Kim Y và ông Nguyễn Quang A không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; điều kiện sống mỗi người mỗi nơi không có sự chia sẻ, thực hiện các công việc trong một gia đình; khả năng đoàn tụ không có nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà Đào Ngọc Kim Y ly hôn ông Nguyễn Quang A theo quy định tại Điều 19, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Vợ chồng có 01 (Một) con chung tên Nguyễn Ngọc Minh T, sinh ngày 27/4/2021, hiện nay trẻ Minh T đang sống chung với bà Đào Ngọc Kim Y. Bà Đào Ngọc Kim Y yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu ông Nguyễn Quang A cấp dưỡng nuôi con chung, xét thấy: Hiện nay trẻ Nguyễn Ngọc Minh T còn nhỏ, mới 22 tháng tuổi, đang được bà Đào Ngọc Kim Y chăm sóc, nuôi dưỡng bình thường, không có chứng cứ chứng minh việc bà Đào Ngọc Kim Y chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ không đảm bảo sự phát triển bình thường của trẻ. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà Đào Ngọc Kim Y, giao trẻ Nguyễn Ngọc Minh T cho bà Đào Ngọc Kim Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Đào Ngọc Kim Y không yêu cầu ông Nguyễn Quang A cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Đào Ngọc Kim Y trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Đào Ngọc Kim Y phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Xét ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tại phiên tòa: Như nhận định nêu trên xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 40, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 477 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 121 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đào Ngọc Kim Y đối với bị đơn ông Nguyễn Quang A:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đào Ngọc Kim Y ly hôn ông Nguyễn Quang A.

Giấy chứng nhận kết hôn số 190 ngày 23/12/2019 do Ủy ban nhân dân phường LĐ, quận TĐ, Thành phố H cấp cho bà Đào Ngọc Kim Y và ông Nguyễn Quang A không còn giá trị pháp lý kể từ ngày Bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Có 01 (Một) con chung tên Nguyễn Ngọc Minh T, sinh ngày 27/4/2021.

Giao con chung chưa thành niên tên Nguyễn Ngọc Minh T cho bà Đào Ngọc Kim Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn. Hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung chưa thành niên đối với ông Nguyễn Quang A cho đến khi có yêu cầu của bà Đào Ngọc Kim Y. Việc giao nhận con chung chưa thành niên tên Nguyễn Ngọc Minh T do hai bên đương sự tự thi hành hoặc yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức đóng góp cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Đào Ngọc Kim Y phải chịu là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) do bà Đào Ngọc Kim Y đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001384 ngày 20/12/2021 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố H.

5. Về quyền kháng cáo bản án:

Bà Đào Ngọc Kim Y vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Ông Nguyễn Quang A cư trú ở nước ngoài, vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ