- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Thành T xin ly hôn chị Trương Thị Mỹ L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thành Tr về các vấn đề sau:
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 141/2023/HNGĐ-ST Ngày: 29-5-2023 “v/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chất
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Thảo và ông Nguyễn Văn Hoàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 99/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 107/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2023 giữa:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thành Tr, sinh năm 1989; Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Đài Loan. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
Người được anh Tr ủy quyền về việc giao, nhận các văn bản của Tòa án: Bà Trịnh Thị Ch, sinh năm 1968; nơi cư trú: Thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn: Chị Trương Thị Mỹ L, sinh năm 1990; Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Đài Loan. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trịnh Thị Ch, sinh năm 1968; nơi cư trú: Thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt, có quan điểm xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Thành Tr trình bày:
Anh và chị Trương Thị Mỹ L quen biết nhau ở Đài Loan. Năm 2013, anh chị về Việt Nam tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh quay trở lại Đài Loan làm việc, mỗi người ở một nơi, chỉ thỉnh thoảng mới gặp nhau. Năm 2019, chị L về Việt Nam để sinh con, còn anh vẫn ở lại Đài Loan. Từ thời gian này, vợ chồng anh thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường hay xảy ra cãi nhau. Thời điểm chị L sinh con, anh cũng xin về phép để thăm mẹ con chị L, sau đó anh phải quay trở lại Đài Loan để làm việc. Từ khi anh đi, mỗi lần gọi điện về anh và chị L đều xảy ra cãi nhau nên từ đó anh chị không còn liên lạc với nhau nữa và đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Đầu năm 2023, chị L đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị L.
Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là Nguyễn Kim Tuệ N, sinh ngày 13/01/2019, hiện đang ở cùng bà nội là Trịnh Thị Ch. Sau khi ly hôn, anh đề nghị được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng tiền nuôi con cùng anh. Trong thời gian anh ở nước ngoài, anh ủy quyền cho bà Ch nuôi dưỡng cháu Tuệ N cho đến khi anh về Việt Nam.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Do anh Tr không cung cấp được địa chỉ của chị L ở Đài Loan nên Tòa án đã tiến hành xác minh tại gia đình chị L. Bà Trương Thị Th (là mẹ đẻ chị L) trình bày: Bà không biết địa chỉ cụ thể của chị L ở nước ngoài nên không cung cấp cho Tòa án được. Tuy nhiên chị L vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình qua điện thoại. Bà đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho chị L biết. Quan điểm của chị L là do vợ chồng không còn tình cảm, nay anh Tr xin ly hôn thì chị L đồng ý. Về con chung: Chị và anh Tr có 01 con chung như anh Tr trình bày là đúng. Chị đồng ý để anh Tr và ông bà nội nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Kim Tuệ N. Về tài sản chung, nợ chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị Ch có quan điểm: Trong thời gian anh Tr không ở Việt Nam, bà đồng ý nhận ủy quyền của anh Tr về việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Kim Tuệ N, đồng thời bà đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Thành Tr ly hôn chị Trương Thị Mỹ L. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Kim Tuệ N, sinh ngày 13/01/2019 cho anh Nguyễn Thành Tr nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Tr không yêu cầu chị L cấp dưỡng tiền nuôi con. Trong thời gian anh Tr không có mặt tại Việt Nam, tạm giao cháu Tuệ N cho bà Trịnh Thị Ch (là mẹ đẻ anh Tr) trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi anh Tr về Việt Nam. Về án phí: Anh Tr phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Anh Nguyễn Thành Tr và chị Trương Thị Mỹ L đều đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh tại xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dương. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Tr không cung cấp được địa chỉ cụ thể của chị L ở nước ngoài. Tòa án đã nhiều lần yêu cầu nhưng gia đình chị L đều trình bày không biết địa chỉ cụ thể của chị L ở Đài Loan. Tòa án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng cho bà Trương Thị Th là mẹ đẻ của chị L để bà Th thông tin lại cho chị L biết việc Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa anh Tr và chị L. Đồng thời Tòa án cũng tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn chị L đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng qua gia đình và niêm yết các văn bản tố tụng đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, do vậy, căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thành Tr và chị Trương Thị Mỹ L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dương vào ngày 03/9/2013 nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh Tr và chị L cùng sang Đài Loan làm việc nhưng mỗi người sống một nơi. Sau đó, chị L về Việt Nam để sinh con còn anh Tr vẫn ở lại Đài Loan. Từ thời gian này, anh chị đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cãi nhau do bất đồng quan điểm sống. Anh Tr và chị L đã không còn liên lạc với nhau và sống ly thân từ năm 2020. Nay anh Tr và chị L đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh Tr có đơn xin ly hôn, chị L đồng ý. Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh Tr và chị L đã trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận cho anh Tr được ly hôn chị L là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung: Anh Nguyễn Thành Tr và chị Trương Thị Mỹ L có 01 con chung là Nguyễn Kim Tuệ N, sinh ngày 13/01/2019, hiện đang ở cùng bà nội là Trịnh Thị Ch. Khi ly hôn, anh Tr và chị L đều có quan điểm giao con chung cho anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Tr tự nguyện không yêu cầu chị L cấp dưỡng tiền nuôi con. Do anh Tr đang ở nước ngoài nên ủy quyền cho bà Trịnh Thị Ch thay anh chăm sóc cháu Tuệ N cho đến khi anh về Việt Nam. Bà Ch đồng ý nhận ủy quyền của anh Tr. Xét thấy, thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật, do vậy cần chấp nhận thỏa thuận của anh Tr và chị L. Tạm giao cháu Nguyễn Kim Tuệ N cho bà Trịnh Thị Ch chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh Tr không có mặt tại Việt Nam.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Anh Nguyễn Thành Tr phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thành Tr về các vấn đề sau:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Thành Tr ly hôn chị Trương Thị Mỹ L.
1.2. Về quan hệ con chung: Xử giao cho anh Nguyễn Thành Tr được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Kim Tuệ N, sinh ngày 13/01/2019 kể từ khi ly hôn cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Tạm giao cháu Tuệ N cho bà Trịnh Thị Ch chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh Tr không có mặt tại Việt Nam. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Tr không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
2. Về án phí: Anh Nguyễn Thành Tr phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số AA/2021/0003989 ngày 13 tháng 3 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh Tr đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Thành Tr, chị Trương Thị Mỹ L vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương; - UBND xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dương; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Chất |