vanban.org

Bản án 141/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Thị Gi được ly hôn với anh Nguyễn Minh Th.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Trần Đức L, sinh ngày 26/01/2018 cho anh Nguyễn Minh Th tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Trần Thị Gi không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Gi không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Giào - Thiện"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Thị Gi được ly hôn với anh Nguyễn Minh Th.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN D ÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 06 – 7 – 2023
“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đệ

Các vị Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Tấn Liêm

Ông Trần Quốc Trí

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc San là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Ngày 06 tháng 7 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 126/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2023. Về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Gi, sinh năm 1981 (Có mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp BT, xã ĐT, huyện CN, tỉnh Cà Mau

- Bị đơn: Anh Nguyễn Minh Th, sinh năm 1982 (Vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp BT, xã ĐT, huyện CN, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 02 – 3– 2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Gi trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Minh Th kết hôn vào năm 2017 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đông Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Sau khi kết hôn chị và anh Th chung sống hạnh phúc nhưng đến khoảng năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Vào năm 2022 chị có nộp đơn khởi kiện đến Toà án nhân dân huyện Cái Nước để yêu cầu ly hôn, lúc đó anh Th hứa sửa đổi và yêu cầu chị rút đơn lại, tuy nhiên sau khi chị rút đơn thì anh Th không sửa đổi. Nay xét thấy đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên chị yêu vầu Toà án nhân dân huyện Cái Nước giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Minh Th.

Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa chị và anh Th có 01 người con chung tên Nguyễn Trần Đức L, sinh ngày 26/01/2018, hiện con đang sống với chị. Sau khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên toà, chị Gi yêu cầu giao con cho anh Th nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con, vì trong thời gian chờ Toà án giải quyết thì chị và anh Th đã thoả thuận được việc nuôi con, chị đã giao con cho anh Th khoảng 02 tháng nay.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đối với anh Nguyễn Minh Th, Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; triệu tập anh Th để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng anh Th vắng mặt không lý do.

TÒA ÁN NHẬN ĐỊNH:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa chị Trần Thị Gi và anh Nguyễn Minh Th là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc Ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Minh Th có địa chỉ tại Ấp BT, xã ĐT, huyện CN, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Trần Thị Gi và anh Nguyễn Minh Th kết hôn vào năm 2017 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đông Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Do đó, hôn nhân của chị Gi và anh Th là hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn của chị Gi và anh Th thực sự có xảy ra và không thể hàn gắn được. Vào năm 2022 chị Gi đã một lần nộp đơn xin ly hôn tại Toà án nhưng sau đó rút lại để hàn gắn với anh Th, tuy nhiên sau đó giữa chị Gi và anh Th không thể hàn gắn được với nhau và đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2023 cho đến nay. Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã thông báo cho anh Th biết về yêu cầu ly hôn của chị Gi nhưng anh Th không tham gia phiên tòa và cũng không có ý kiến gì về yêu cầu xin ly hôn của chị Gi, cho thấy anh Th không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn giữa chị Gi và anh Th đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị Gi đối với anh Th là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

[3] Về con chung: Tại đơn khởi kiện chị Gi yêu cầu được nuôi con không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên toà, chị Gi yêu cầu giao con cho anh Th nuôi dưỡng, chị Gi không cấp dưỡng nuôi con. Theo chị Gi trình bày trong quá trình Toà án giải quyết vụ án giữa chị Gi và anh Th đã thoả thuận được với nhau về việc nuôi con, chị Gi đã giao con cho anh Th nuôi dưỡng vào khoảng tháng 5 năm 2023, vì chị không đủ điều kiện để nuôi con, hiện tại chị đang ở nhà thuê và đi làm để kiếm sống không có thời gian để lo cho con. Hội đồng xét xử nhận thấy, chị Gi và anh Th đã thoả thuận được với nhau về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, việc chị Gi đồng ý giao con cho anh Th nuôi dưỡng là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Đồng thời, chị Gi cũng không đủ điều kiện để nuôi con sau khi ly hôn. Hiện cháu Nguyễn Trần Đức L đang sống với anh Th, do đó việc giao con cho anh Th tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Minh Th vắng mặt tại phiên toà và không có yêu cầu về việc chị Gi phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nếu sau này anh Th có yêu cầu chị Gi cấp dưỡng nuôi con thì có quyền khởi kiện thành một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

Chị Gi không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung và nợ: Chị Trần Thị Gi xác định giữa chị Gi và anh Th không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với anh Th vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, anh Th không có ý kiến gì về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Nếu sau này giữa các bên đương sự có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định pháp luật.

[5] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Gi phải chịu 300.000 đồng theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì caùc leõ treân;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28; 35; 39; 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 9, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Thị Gi được ly hôn với anh Nguyễn Minh Th.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Trần Đức L, sinh ngày 26/01/2018 cho anh Nguyễn Minh Th tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Trần Thị Gi không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Gi không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Gi phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, đối trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008887 ngày 07/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước chị Gi nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh Nguyễn Minh Th không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai chị Trần Thị Gi có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Minh Th có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ