vanban.org

Bản án 141/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 24/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Xuân Th phạm tội "Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Xuân Th 04(Bốn) năm 9 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 29/05/2021. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự: Các điều 584,585, 586,589 BLDS. Buộc bị cáo Phạm Xuân Th phải tiếp tục trả lại cho chị Hà Thị C số tiền 71.560.000đ( Bảy mươi mố… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo phạm xuân th - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Xuân Th phạm tội "Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NINH BÌNH
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:141/2021/HS-ST
Ngày 24/12/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Việt Thanh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thanh Bình – Bà Đàm Thị Hà

- Thư ký phiên Toà: Bà Trần Thị Bích Phượng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Lê Quang Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 116/2021/TLST-HS ngày 03/11/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2021/QĐXXST-HS ngày 10/12/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Xuân Th, tên gọi khác: không, sinh năm: 1981; Nơi cư trú: xóm 8, thôn Q, xã B, huyện K, tỉnh T.; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa 04/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên bố: Phạm Văn T; Họ và tên mẹ: Đào Thị Q .Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Phạm Thị N - sinh năm 1987; trú tại: Xóm 8, thôn Q, xã B, huyện K, tỉnh T ; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2012.

Tiền án: Tại bản án số 241/2019/HSST ngày 04/09/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong ngày 24/04/2020. Tiền sự: Không.

Về nhân thân:

- Tại bản án số 128/2007/HSST ngày 18/09/2007, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.(Bản án này đã được xoá án)

- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 59 ngày 10/01/2012, bị Công an huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” (Đã thi hành xong).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/05/2021, chuyển tạm giam ngày 07/06/2021, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình, có mặt.

Bị hại:

- Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm: 1990

Nơi ĐKNKTT: số nhà 118, đường Tr, phố Ph, phường Ph, thành phố N, tỉnh N.

Nơi cư trú: thôn P, xã N, thành phố N, tỉnh N. Vắng mặt.

- Chị Nguyễn Thị Nh, sinh năm: 1964

Nơi cư trú: phố B, phường N, thành phố N, tỉnh N. Vắng mặt.

- Chị Hà Thị C, sinh năm: 1994

Nơi cư trú: phố Phương Đ , phường N, thành phố N, tỉnh N. Vắng mặt.

- Anh Đỗ Quốc L, sinh năm: 1980

Nơi cư trú: phố Phong Đ, phường N, thành phố N, tỉnh N. Vắng mặt.

2.3 Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Chị Phạm Thị N, sinh năm: 1987

Nơi cư trú: xóm 8, thôn Q, xã B, huyện K, tỉnh T. Có mặt

2.4 Người chứng kiến:

- Anh Vũ Ngọc M, sinh năm: 1964. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Ngày 27/05/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình nhận được đơn trình báo của anh Đỗ Quốc L, trú tại phố P, phường N, thành phố N về việc đêm ngày 24/05/2021 gia đình anh bị kẻ gian đột nhập lấy trộm tài sản. Sau khi nhận được tin báo và tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, ngày 28/05/2021, Cơ quan điều tra đã làm rõ, trong khoảng thời gian từ ngày 30/01/2021 đến ngày 24/05/2021 Phạm Xuân Th đã thực hiện 04 lần lấy trộm tài sản trên địa bàn thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 21 giờ 00 ngày 29/01/2021, bị cáo Phạm Xuân Th đi từ nhà đến khu vực bến xe thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đón xe khách đến thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tìm tài sản sơ hở của người dân để lấy trộm. Khoảng 00 giờ ngày 30/01/2021, bị cáo Th xuống xe tại khu vực ngã tư Hoa Đô, thành phố Ninh Bình rồi bắt taxi đến khu vực kênh Đô Thiên, đường Tuệ Tĩnh, thôn Phúc Sơn 1, xã Ninh Tiến, thành phố Ninh Bình. Khi đến nơi, bị cáo Th xuống xe đi bộ đến gốc cây ở gần cống kênh Đô Thiên, cởi hết quần áo bên ngoài, mặc quần đùi, lấy áo phông chùm lên đầu rồi đi vào trong khu vực dân cư để tìm tài sản trộm cắp. Lúc này các nhà dân vẫn còn mở cửa bật điện nên bị cáo quay lại chỗ giấu quần áo ngồi chờ. Đến khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo cởi quần áo ngoài, mặc quần đùi, lấy áo chùm kín đầu để tránh bị phát hiện và quay lại khu dân cư. Khi đi đến nhà chị Nguyễn Thị Th sinh năm 1990 trú tại thôn Ph, xã N, thành phố Ninh Bình thấy cửa sổ trên tầng 2 đang mở nên Th lấy 01 cây luồng chống xuống đất rồi trèo lên tầng 2, trèo qua cửa sổ đang mở rồi đi vào phòng ngủ lấy 01 chiếc túi xách màu đen của chị Th để trên kệ tủ đi ra hành lang lấy toàn bộ số tiền 28.000.000 đồng bỏ vào trong túi quần đùi bên phải rồi cầm chiếc túi xách để vào vị trí cũ. Th tiếp tục đi xuống tầng 1 thấy chiếc áo của anh Hoàng Ph(chồng chị Th) để ở trên giá để hàng, bên trong túi áo có số tiền là 2.000.000 đồng, Th lấy toàn bộ số tiền bỏ vào trong túi quần đùi bên phải. Sau đó lên tầng 2 trèo qua lối cũ tẩu thoát ra ngoài. Tổng số tiền vừa lấy trộm được là 30.000.000 đồng. Th đến chỗ giấu quần áo, mặc lại quần áo và đi về cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình ăn sáng. Sau đó bị cáo bắt xe đi về thành phố Thái Bình và đi về nhà và tiêu xài cá nhân hết. Lần phạm tội này bị cáo đã lấy trộm được là 30.000.000 đồng.

Lần thứ hai: Khoảng 21 giờ 00 ngày 15/04/2021, bị cáo Phạm Xuân Th cũng đi từ nhà đến bến xe khách thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình bắt xe khách đến thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình để tìm tài sản lấy trộm. Khoảng 23 giờ 00 ngày 15/04/2021, Th đến ngã tư Hoa Đô, thành phố Ninh Bình đi taxi đến khu vực cống Chân Chim thuộc địa phận phường Nam Bình, thành phố Ninh Bình đi bộ vào đường Lý Nhân Tông và ngồi ở khu vực bờ kênh. Khoảng 01 giờ ngày 16/04/2021, bị cáo đi bộ đến nhà chị Nguyễn Thị Nh sinh năm 1964 trú tại phố B, phường N, thành phố Ninh Bình quan sát và trèo vào trong sân, đi đến cửa sổ nhà vệ sinh ở tầng 1 đang mở, vào trong thấy cửa từ nhà vệ sinh đi đến phòng tiếp theo bị khóa nên bị cáo trèo theo lối cũ ra ngoài sân. Th thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade Biển kiểm soát 72C1– 351.19 của chị Nh đang dựng trong sân, do cốp xe không khóa, Th mở cốp xe bên trong cốp có 01 chiếc ví của chị Nh có số tiền 5.800.000 đồng, bị cáo đã lấy toàn bộ số tiền rồi trèo tường ra ngoài tẩu thoát. Sau đó, bị cáo bắt xe taxi về ngã tư Hoa Đô rồi đi xe khách về thành phố Thái Bình và đi về nhà. Số tiền lấy trộm của chị Nh, bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết. Lần phạm tội này bị cáo chiếm đoạt số tiền là 5.800.000 đồng.

Lần thứ ba: Khoảng 21 giờ 00 ngày 16/04/2021, bị cáo Phạm Xuân Th cũng từ nhà đến bến xe khách thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình bắt xe khách đến thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình mục đích để tìm tài sản lấy trộm. Khoảng 00 giờ ngày 17/04/2021, bị cáo xuống xe khách tại khu vực ngã tư Hoa Đô, thành phố Ninh Bình , đi taxi đến đường Phạm Thận Duật, phường Ninh Sơn, thành phố Ninh Bình xuống xe đi bộ, quan sát thấy cửa tầng 2 nhà chị Hà Thị C sinh năm 1994 trú tại phố P, phường N, thành phố Ninh Bình không khóa. Bị cáo đi bộ cách nhà chị C khoảng 100 mét cởi quần dài ra mặc quần đùi, cởi áo của mình quấn vào đầu để hở mắt mục đích tránh bị phát hiện, Th sang một nhà dân đang xây bên cạnh đu người lên bể nước trèo xuống nhà chị C, do cửa tum tầng 3 nhà chị C không khóa nên Th đi vào nhà tìm tài sản lấy trộm. Khi xuống tầng 2, bị cáo thấy vợ chồng chị C đang ngủ, trên ô cửa sổ có để chiếc áo chống nắng, qua kiểm tra túi áo thì thấy có một cục tiền, được gói bên ngoài bằng túi nilon đen, bị cáo cầm túi nilon lên tầng 3 mở ra thấy bên trong là 02 cọc tiền mệnh giá 500.000 đồng và 01 chiếc nhẫn vàng 9999 trọng lượng 1 chỉ, Th lấy toàn bộ số tiền và chiếc nhẫn bỏ vào trong túi quần rồi tẩu thoát theo lối cũ ra ngoài, sau đó bị cáo đến chỗ giấu quần áo, mặc lại quần áo và lấy số tiền vừa trộm cắp được ra kiểm tra thì có tổng số tiền là 76.000.000 đồng. Sau đó, bị cáo bắt taxi lên ngã tư Hoa Đô ăn sáng rồi bắt xe khách về thành phố Thái Bình. Khi đi đến thành phố Thái Bình, bị cáo đem 01 chiếc nhẫn vàng 9999 bán cho chủ một cửa hàng vàng bạc (bị cáo không nhớ rõ tên, địa chỉ cửa hàng) được 4.600.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 33 ngày 27/05/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Ninh Bình kết luận: 01 chiếc nhẫn vàng 9999 trọng lượng 1 chỉ, trên mặt có gắn đá hình bầu dục có trị giá 5.560.000 đồng. Lần phạm tội này bị cáo trộm cắp số tiền là 81.560.000 đồng.

Lần thứ tư: Khoảng 06 giờ 00 ngày 23/05/2021, bị cáo Phạm Xuân Th đi từ nhà đến bến xe khách thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình bắt xe khách đến thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Khoảng 09 giờ cùng ngày, bị cáo xuống xe khách tại khu vực ngã tư Hoa Đô, thành phố Ninh Bình rồi bắt taxi đến khu vực Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình ăn cơm, thuê phòng nghỉ tại nhà nghỉ Sao Băng trên đường Tuệ Tĩnh, phường Nam Thành, thành phố Ninh Bình. Khoảng 00 giờ ngày 24/05/2021, bị cáo trả phòng rồi bắt xe taxi đến khu vực cống Chân Chim thuộc địa phận phường Nam Bình, thành phố Ninh Bình. Khi đi qua nhà anh Vũ Mạnh H sinh năm 1988 trú tại thôn Phong Đoài, phường Ninh Phong, thành phố Ninh Bình, bị cáo lấy 01 chiếc áo trẻ em màu cam đang treo trên giàn phơi quần áo bên ngoài hông nhà anh H trùm kín lên đầu và mặt để tránh bị phát hiện. Khi Th đi đến nhà anh Đỗ Quốc L sinh năm 1980 trú tại phố Ph, phường N, thành phố Ninh Bình, Bị cáo trèo lên trụ cổng, bám vào lan can lên tầng 2, sau đó đi vào trong nhà, khi vào phòng ngủ thấy chiếc quần của anh L đang treo trên móc quần áo, bị cáo phát hiện thấy 01 chiếc ví da có 19.000.000 đồng, bị cáo lấy toàn bộ số tiền rồi tẩu thoát. Đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày bị cáo bắt xe về nhà. Số tiền trộm cắp được của anh L, bị cáo đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Lần phạm tội này bị cáo trộm cắp số tiền là 19.000.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền trong 04 lần bị cáo Phạm Xuân Th đã trộm cắp là 136.360.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra sau khi đầu thú bị cáo Phạm Xuân Th tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S8 màu xanh xám. Quá trình điều tra xác minh chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S8 màu xanh xám là tài sản hợp pháp của chị Phạm Thị N, sinh năm 1987 trú tại thôn Q, xã B, huyện K, tỉnh Th (là vợ của bị cáo Th) đã cho bị cáo mượn để sử dụng. Chị N không biết việc bị cáo Th sử dụng chiếc điện thoại để gọi xe taxi sau khi đã trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại cho chị N.

Trong giai đoạn điều tra, bị cáo Phạm Xuân Th đã tác động gia đình bồi thường số tiền mà bị cáo đã trộm cắp cụ thể: Bồi thường số tiền 30.000.000 đồng cho gia đình chị Nguyễn Thị Th, số tiền 5.800.000 đồng cho gia đình chị Nguyễn Thị Nh, số tiền 19.000.000 đồng cho gia đình anh Đỗ Quốc L. Sau khi nhận đầy đủ số tiền trên, chị Th, chị Nh, anh L không có yêu cầu, đề nghị gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can Th. Đối với gia đình chị Hà Thị C gia đình bị cáo mới bồi thường được số tiền 10.000.000 đồng, sau khi nhận số tiền trên gia đình chị C đề nghị bị cáo Phạm Xuân Th phải tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 71.560.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 114/CT-VKS ngày 02/11/2021 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Phạm Xuân Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Xuân Th đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, không thay đổi, bổ sung gì và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Phạm Xuân Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Xuân Th từ 4 năm 6 tháng tù đến 5 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 29/05/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường số tiền còn thiếu theo yêu cầu của chị Hà Thị C là: 71.560.000 đồng.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Xuân Th không có ý kiến gì với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình; đề nghị hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện công khai, hợp pháp đúng Pháp luật.

Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà bị cáo Phạm Xuân Th đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của những bị hại, người chứng kiến, bản kết luận định giá tài sản và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ để kết luận:

Từ ngày 30/01/2021 đến ngày 24/05/2021 bị cáo Phạm Xuân Th đã lợi dụng sơ hở của những người bị hại, lén lút thực hiện 04 lần trộm tài sản trên địa bàn thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình, cụ thể :

Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 30/01/2021, tại nhà chị Nguyễn Thị Th, Phạm Xuân Th lấy trộm số tiền là 30.000.000đồng; Khoảng 01 giờ ngày 16/04/2021, tại nhà chị Nguyễn Thị Nh, Phạm Xuân Th lấy trộm số tiền là 5.800.000 đồng; Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 17/04/2021, tại nhà chị Hà Thị C, Phạm Xuân Th lấy trộm số tiền 76.000.000 đồng và 01 chiếc nhẫn vàng 9999 trọng lượng 1 chỉ, trên mặt có gắn đá hình bầu dục có giá trị là 5.560.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo đã lấy trộm của chị C là 81.560.000 đồng; Khoảng 00 giờ ngày 24/05/2021, Phạm Xuân Th lấy trộm của anh Đỗ Quốc L số tiền là 19.000.000 đồng. Như vậy tổng giá trị tài sản bị cáo Phạm Xuân Th đã trộm cắp trong 04 lần là 136.360.000 đồng.

Hành vi trên của bị cáo Phạm Xuân Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, tài sản này được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, bị cáo thực hiện nhiều lần phạm tội, giá trị lớn do vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất mức độ, hành vi bị cáo đã thực hiện đủ sức răn đe giáo dục bị cáo góp phần phòng ngừa chung.

Khi lượng khung hình phạt Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo như sau. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, tài sản bị cáo trộm cắp được đã trả cho 03 người bị hại và những bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Năm 2019 bị cáo bị đưa ra xét xử về hành vi trộm cắp tài sản, chưa được xoá án tích, nay bị cáo lại tiếp tục thực hiện 04 lần phạm tội, vì vậy bị cáo phải chịu các tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm”quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xét thấy nhân thân bị cáo đã nhiều lần bị Tòa án đưa ra xét xử về nhiều hành vi phạm tội, bị xử phạt vi phạm hành chính, nay lại tiếp tục phạm tội mới thể hiện bị cáo là người lười lao động, khó cải tạo ý thức coi thường pháp luật nên Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian tương xứng với hành vi của bị cáo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Các vấn đề khác:

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra chị Phạm Thị N là vợ bị cáo Phạm Xuân Th đã trả cho những bị hại là: gia đình chị Nguyễn Thị Th số tiền 30.000.000 đồng, gia đình chị Nguyễn Thị Nh số tiền 5.800.000 đồng, gia đình anh Đỗ Quốc L số tiền 19.000.000 đồng. Sau khi nhận đầy đủ số tiền trên, chị Th, chị Nh, anh L không có yêu cầu đối với bị cáo. Đối với chị Hà Thị C, chị Phạm Thị N mới trả số tiền 10.000.000đ, tổng số tiền chị N đã bồi thường thay cho bị cáo là: 64.800.000đ, tại phiên tòa chị N trình bày đây là tài sản chung của vợ chồng chị, chị tự nguyện bỏ ra bồi thường không yêu cầu bị cáo Th phải trả lại cho chị.

Chị Hà Thị C bị trộm cắp tổng số tài sản là: 81.560.000 đồng, mới nhận lại số tiền bồi thường là 10.000.000đ, chị yêu cầu bị cáo Th phải tiếp tục bồi thường số tiền còn lại cho chị, vì vậy buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Hà Thị C số tiền 71.560.000đ.

Đối với tài sản thu giữ của bị cáo, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu, việc trả lại là đúng quy định của pháp luật nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Xuân Th phạm tội "Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Xuân Th 04(Bốn) năm 9 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 29/05/2021.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự: Các điều 584,585, 586,589 BLDS. Buộc bị cáo Phạm Xuân Th phải tiếp tục trả lại cho chị Hà Thị C số tiền 71.560.000đ( Bảy mươi mốt triệu, năm trăm sáu mươi ngàn đồng).

Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không tự nguyện thi hành số tiền trên, thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương tứng với thời gian chậm trả cho đến khi thi hành xong. Mức lãi suất chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền chậm trả. Trường hợp không thỏa thuận được về lãi suất chậm trả thì được xác định bằng 50% của mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Xuân Th phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; 3.578.000đ (Ba triệu năm trăm bảy mươi tám ngàn) án phí dân sự sơ thẩm để sung quĩ Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ