vanban.org

Bản án 141/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Sơn Trà, TP Đà Nẵng Tuyên án 24/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/11/2020. Án phí HSST: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Thi - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141 /2020/HSST
Ngày 24/12/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ TP ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trâm

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành- Thư ký Tòa án nhân dân Quận Sơn Trà TP Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Thái Hồng Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 12 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 141/2020/HSST ngày 10 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2020/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

Hä vµ tªn: NGUYỄN VĂN T

Tªn gäi kh¸c: Không;

Sinh n¨m 2001 t¹i Quảng Ngãi;

N¬i cư trú: Thôn A, xã P, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi ;

Quèc tÞch: ViÖt Nam; D©n téc: Kinh; T«n gi¸o: Kh«ng;

Trình độ học vẫn: 07/10;

NghÒ nghiÖp: LĐPT;

Tiên án, tiền sự: Không

Con ông: Nguyễn Văn T1 (SN 1974) và bà: Nguyễn Thị M (SN 1980). Gia đình có ba anh em, bị cáo là con thứ hai.

- 1 -

Bị cáo bị bắt ngày 17/11/2020, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng. Có mặt tại phiên tòa.

* Ngƣời bị hại: Ông Nguyễn Văn T2- Sinh năm: 1996- Trú tại: Thôn T, xã P, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.

* Ngƣời làm chứng: Ông Huỳnh Anh T- Sinh năm: 1977- Trú tại: Số 05 đường A, phường A, quận S, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 17/11/2020, Nguyễn Văn T đến cảng cá Âu thuyền Thọ Quang gặp anh Nguyễn Văn T2 (SN 1966; Trú: Xã Phổ Thanh, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi) - là chủ tàu cá số hiệu QNg 98024 đang neo đậu tại Âu thuyền xin đi làm biển thì anh T1 đồng ý và cho ở lại trên tàu. Trong thời gian ở trên tàu, T nhìn thấy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu hồng của anh T1 để trên tầng 2 cabin tàu nên nảy sinh ý định trộm cắp. T đi đến lấy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu hồng bỏ vào túi quần rồi rời khỏi cabin nhưng vẫn ở trên tàu. Đến 13 giờ cùng ngày, anh T1 không muốn cho T đi tàu nữa nên cho tiền để T đi xe về quê và sau đó đi mua đồ dùng phục vụ đi tàu. Một lúc sau, anh T1 về thì nghe cha mình là ông Nguyễn Xị đuổi T ra khỏi tàu, thấy T rời khỏi tàu có biểu hiện đáng ngờ nên anh T lên tàu kiểm tra thì phát hiện mất điện thoại nên tri hô. Nghe tiếng tri hô nên T bỏ chạy. Anh T1 cùng anh Huỳnh Văn Tuấn (SN 1977; Trú: An Trung 6, phường An Hải Tây, quận Sơn Trà) và một số người dân đuổi theo T. Khi chạy đến ngã ba đường Vân Đồn

- Nguyễn Phục thì T chạy vào Công ty Hoàng Hải và giấu chiếc điện thoại đã lấy trộm được vào một đống gạch gần đó. Anh T1 và người dân bắt được T, tìm thấy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus của anh T1 nên trình báo Công an phường Thọ Quang đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

* Tang vật:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu hồng (Đã trao trả cho anh Nguyễn Văn T1).

- 2 -

Tại Kết luận số: 76/KL-HĐ ĐGTSTTHS ngày 19/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận Sơn Trà xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu hồng có giá trị 5.396.000 đồng.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà giữ nguyên quan điểm theo Quyết định truy tố số 01/CT-VKS ngày 10/12/2020 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” đồng thời đề nghị:

- Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn T1 đã nhận lại toàn bộ tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Anh Nguyễn Văn T1 đã nhận lại toàn bộ tài sản nên không đề cập đến.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.

Ý kiến của người bị hại về hành vi phạm tội của bị cáo: Anh Nguyễn Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng thể hiện trong hồ sơ vụ án anh có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; về phần bồi thường dân sự nguời bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Đối với vụ án này, có đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn quy định tại Điều 456 BLTTHS nên việc Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà ra Quyêt định áp dụng thủ tục rút gọn là phù hợp.

- 3 -

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Sơn Trà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các tài liệu điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 17/11/2020, tại cảng cá Âu thuyền Thọ Quang, Nguyễn Văn T đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu hồng trị giá 5.396.000 đồng của anh Nguyễn Văn T1 để nhằm mục đích lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Hành vi trên đây của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 điều 173 của BLHS. Do đó Quyết định truy tố số 01/QĐ-VKS-ST ngày 10/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà đã truy tố là có cơ sở, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội thì thấy: Do ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã bất chấp tất cả để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác phục vụ cho mục đích riêng của bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất liều lĩnh, táo bạo, nguy hiểm cho xã hội, nó không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân đây là một trong những khách thể quan trọng luôn được pháp luật bảo vệ mà còn gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây mất ổn định trật tự trị an xã hội tại địa phương.

Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra

- 4 - cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; ngoài ra, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bà nội của bị cáo được Thủ tướng Chính phủ tặng kỷ niệm chương chiến sĩ Cách mạng bị địch bắt tù, đầy nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS. Do bị cáo có nhiều hơn hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS nên cần áp dụng khoản 3 điều 54 BLHS quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp.

Về biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian ngắn đủ để phát huy tác dụng giáo dục đối bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn T1 đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Anh Nguyễn Văn T1 đã nhận lại toàn bộ tài sản nên không đề cập đến.

Xét các nội dung đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà cho bị cáo về tội danh, điều khoản luật và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp các nhận định của Hội đồng xét xử.

Án phí HSST: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".

1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 3 điều 54 Bộ luật hình sự.

- 5 -

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/11/2020.

2. Án phí HSST: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ