vanban.org

Bản án 141/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 18/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn X phạm tội Trộm cắp tài sản ;

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn X 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính t ngày 17/5/2020. Về v t chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 balo màu anh có ch QĐND Việt Nam đ qua sử dụng; 01 quần đ i tối màu có sọc viền trắng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn X phạm tội Trộm cắp tài sản ;
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141/2020/HS-ST
Ngày 18-09-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư

Ông Trịnh Văn Nhất

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 09 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố B , tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 139/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn X, sinh năm 1970 tại thành phố B , tỉnh Bắc Giang; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Số nhà 28, ngõ 40, tổ 2, phường M, thành phố B , tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 6/10; Con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1937 đ chết và bà Đoàn Thị H, sinh năm 1940 đ chết ; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ tư. Bị cáo có v là Trần Thị M, sinh năm 1977 và có hai con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2005.

- Tiền án: Không.

- Tiền sự:

Quyết định số 116 ngày 04/7/2018, Trưởng Công an thành phố B ử phạt vi phạm hành ch nh về hành vi Xâm hại đến sức khỏe người khác , phạt tiền 2.500.000 đ ng.

Quyết định số 17 ngày 04/7/2018, Công an phường M, thành phố B ử phạt vi phạm hành ch nh về hành vi Gây rối tr t tự công cộng , phạt tiền 200.000 đ ng.

- Nhân thân:

Năm 1986, Tòa án nhân dân thị B ử phạt 12 tháng t về tội L a đảo chiếm đoạt tài sản .

+ Bản án số 692 ngày 22/6/1989, Tòa ph c thẩm Toà án nhân dân tối cao ử phạt 05 năm t về tội Cướp tài sản của công dân .

+ Bản án số 1488 ngày 21/10/1994, Tòa ph c thẩm Toà án nhân dân tối cao ử phạt 12 năm t về tội Cướp tài sản của công dân .

+ Bản án số 72 ngày 22/4/1994, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Bắc ử phạt 03 năm t về tội Cố ý gây thương t ch .

+ Bản án số 40/2012/HSST ngày 09/3/2012, Tòa án nhân dân thành phố B ử phạt 01 năm 02 tháng t về tội Cản trở giao thông đường sắt .

+ Bản án số 191/2014/HSST ngày 05/9/2014, Tòa án nhân dân thành phố B ử phạt 02 năm 10 tháng t về tội Cư ng đoạt tài sản , chấp hành ong án phạt t ngày 18/01/2017.

Bị cáo bị gi trong trường h p khẩn cấp, bị tạm gi , tạm giam t ngày 17/5/2020 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang. (Có mặt tại phiên tòa)

* Bị hại:

- Ông Trần Thanh B, sinh năm 1969.

Địa chỉ: Số 250, đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)

* Người có quyền l i và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Anh D, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Số 08, đường K, tổ 5, phường T, thành phố B , tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)

- Ông Ngô H ng M, sinh năm 1968.

Địa chỉ: Số 17, ngõ 132, đường C, phường L, thành phố B , tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)

- Ông Nguyễn Đăng H, sinh năm 1969.

Địa chỉ: Ngõ 396, đường H, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 ph t ngày 16/5/2020, Nguyễn Văn X, sinh năm 1970, tr tại số nhà 28, ngõ 40, tổ 2, phường M, thành phố B đi bộ t nhà đến khu vực đường L, phường H, thành phố B , tỉnh Bắc Giang. Khi đi đến số nhà 250, đường L, thành phố B, X nhìn thấy 01 chiếc e mô tô nh n hiệu Honda Future màu ám đen gắn biển kiểm soát 29X1-301.89, trên ổ khóa điện của e v n cắm chìa khóa của ông Trần Thanh B, sinh năm 1969, tr tại số nhà 250, đường L, thành phố B . X tiến lại gần, quan sát không thấy ai trông coi nên đ ng i lên e mô tô, vặn khóa e đề e nổ máy r i điều khiển e đi đến nhà anh Nguyễn nh D sinh năm 1971, tr tại số nhà 08, đường K , phường T, thành phố B. X đỗ e ở cửa thì gặp anh Ngô H ng M, sinh năm 1968, tr tại số nhà 17, ngõ 132, đường C, thành phố B và anh Nguyễn Đăng H, sinh năm 1969, tr tại ngõ 396, đường H, phường T, thành phố B đang ng i nói chuyện với anh D. X mư n anh D chiếc b a để đ p chiếc biển kiểm soát của chiếc e mô tô trên thì anh M bảo X lấy kìm mà tháo biển kiểm soát. nh M lấy cho X một chiếc kìm để X tháo biển kiểm soát 29X1-301.89 ra khỏi chiếc e. Sau đó, X để lại biển kiểm soát v a tháo trên tại nhà anh D r i điều khiển e mô tô bỏ đi, anh M đ cầm chiếc biển kiểm soát trên về nhà. X không nói cho các anh D ng, Minh, H ng biết về ngu n gốc của chiếc e mô tô do mình v a trộm cắp đư c. Đến khoảng 20 giờ c ng ngày, X điều khiển e mô tô không lắp biển kiểm soát trên đến quán nước ở gầm cầu M, thành phố B thì Tổ công tác Công an thành phố B kiểm soát, thu gi của Nguyễn Văn X 01 balo màu anh có ch QĐND Việt Nam đ qua sử dụng; 01 quần đ i tối màu có sọc viền trắng; 01 e mô tô nh n hiệu Future 125Fi màu ghi không lắp biển kiểm soát, có 02 giương chiếu h u, e vành đ c đ qua sử dụng.

Cùng ngày ông Trần Thanh B đ trình báo Công an thành phố B. Cơ quan điều tra đ tr ch uất d liệu hình ảnh camera an ninh tại gia đình ông B trong đó có đoạn hình ảnh ghi lại hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Văn X. Cơ quan điều tra đ tiến hành cho X em lại đoạn video trên, X ác định bản thân có thực hiện hành vi mở khóa e và điều khiển e mô tô đi.

Ngày 17/5/2020, anh Ngô H ng M đ giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 biển kiểm soát số 29X1-301.89.

Tại kết lu n định giá tài sản số 268 ngày 18/5/2020, Hội đ ng định giá tài sản trong tố tụng thành phố B kết lu n: 01 e mô tô nh n hiệu HOND FUTURE màu sơn ám – đen, gắn biển kiểm soát 29X1-301.89, số máy 044173, số khung 0099716, e c đ qua sử dụng, có trị giá 12.000.000 đ ng Số máy, số khung căn cứ giấy đăng ký e mô tô do bị hại là ông B cung cấp .

Tại Cơ quan điều tra, ông Trần Thanh B khai mua chiếc e mô tô gắn biển kiểm soát 29X1-301.89 của một người phụ n không quen biết vào năm 2015 với giá 18.000.000 đ ng, hai bên không làm giấy tờ mua bán. Quá trình sử dụng e, ông B đ làm mất đăng ký e, chỉ còn bản phô tô đăng ký e mang tên Trần Thị H, sinh năm 1992, địa chỉ thôn 7, Trung C, Đan P, Hà Nội. Cơ quan điều tra đ tiến hành ác minh, kết quả chị H cho biết chị không có chiếc e mô tô nào có đặc điểm như trên.

Cơ quan điều tra đ trưng cầu giám định số khung, số máy và tra cứu ngu n gốc chiếc e và biển kiểm soát 29X1-301.89. Quá trình giám định, phòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Bắc Giang chiếc e mô tô nh n hiệu Honda, số loại Future có số máy là JC54E-0099176, số khung là RLHJC5313CY044173. Tại Bản kết lu n giám định số 930/KL- KTHS ngày 24/7/2020, Phòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết lu n: D y số máy C54E-0099176 d y số khung RLH C5313CY044173 trên e mô tô nh n hiệu Honda, số loại Future, màu sơn đen- ám không biển kiểm soát gửi đi giám định không bị hàn ghép, đóng đục lại .

Kết quả tra cứu chiếc e có số máy C54E-0099176, số khung RLHJC5313CY044173 đăng ký mang tên anh Nguyễn D ng H, sinh năm 1980, tr tại số 283, đường Nguyễn Văn L, phường Bần Yên N, thị Mỹ H, tỉnh Hưng Yên. nh H khai bị mất trộm chiếc e trên vào tháng 02/2014 tại thị Mỹ H, tỉnh Hưng Yên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đ có công văn đề nghị Công an thị Mỹ H, tỉnh Hưng Yên tiếp nh n chiếc e để ử lý theo thẩm quyền.

Kết quả tra cứu chiếc biển kiểm soát 29X1-301.89 là của chiếc e loại SH 150i đăng ký tên anh Lê Ch Th, sinh năm 1972, tr tại khu n P, thị trấn Ch c S, huyện Chương M, Hà Nội. nh Th khai bị trộm cắp chiếc e khoảng tháng 3/2014 tại qu n HK, thành phố Hà Nội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đ có công văn đề nghị Công an qu n HK, thành phố Hà Nội tiếp nh n v t chứng để ử lý theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn X không th a nh n hành vi trộm cắp tài sản mà trình bày là tự ý mư n e mô tô mà không đư c sự cho phép của chủ sở h u.

Tại bản cáo trạng số 143/CT-VKS ngày 26 tháng 8 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đ truy tố bị cáo Nguyễn Văn X về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ lu t Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo X trình bày: Bị cáo chỉ mư n e để đi, bị cáo không trộm cắp tài sản. Mục đ ch bị cáo lấy chiếc xe đi là để cảnh báo bị hại trong việc quản lý tài sản. Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản là không đ ng.

Hội đ ng ét ử công bố lời khai của nh ng người tham gia tố tụng đư c triệu t p nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong h sơ. Bị cáo nhất tr và không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, gi nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đ ng xét xử:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn X phạm tội Trộm cắp tài sản .

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38 của Bộ lu t Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn X t 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính t ngày 17/5/2020.

3. Về v t chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ lu t Hình sự; Điều 106 của Bộ lu t Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 balo màu anh có ch QĐND Việt Nam đ qua sử dụng; 01 quần đ i tối màu có sọc viền trắng;

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ lu t Tố tụng hình sự, Điều 21, Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh lu n, bị cáo đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét hành vi của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đ đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nh n định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và nh ng người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về tội danh: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà hôm nay, bị cáo không th a nh n hành vi của bản thân là trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai trong h sơ vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đều th a nh n bị cáo đ tự ý điều khiển chiếc xe mô tô nh n hiệu Honda Future màu ám đen gắn biển kiểm soát 29X1-301.89, trên ổ khóa điện của e v n cắm chìa khóa dựng trước cửa nhà số 250, đường L đi. Bị cáo trình bày, trước khi bị cáo điều khiển xe đi thì có hỏi “cho tôi mượn chiếc xe” nhưng không có ai lên tiếng trả lời nên bị cáo đ lấy e đi. Sau đó bị cáo c ng không thông báo cho ai, không thông báo cho bị hại, đến khi bị hại phát hiện e bị mất và trình báo cơ quan công an thì bị cáo v n đang là người quản lý chiếc xe. Do đó, có thể khẳng định việc bị cáo lên tiếng hỏi mư n e chỉ là mục đ ch thăm dò, xem có ai cảnh giác trước khi có hành vi lén l t thực hiện hành vi chiếm đoạt.

Ngoài ra, quá trình điều tra, bị hại ông Trần Thanh B khai trước thời điểm mất e không gặp và c ng có ai hỏi mư n e. Điều này đư c chứng minh khi phát hiện bị mất e, bị hại đ trình báo với cơ quan công an. Bởi v y bị cáo khai rằng chỉ mư n và lấy e sau đó trả lại nhằm mục đ ch cảnh báo bị hại trong việc quản lý tài sản là không có cơ sở chấp nh n.

Sau khi chiếm đoạt đư c chiếc xe, bị cáo đến nhà anh Nguyễn nh D sinh năm 1971, tr tại số nhà 08, đường K, phường T, thành phố B để tháo biển kiểm soát chiếc xe ra và thay thế bằng một chiếc biển kiểm soát khác. Hành vi này thể hiện rõ bị cáo cố tình che giấu, tránh để bị hại và lực lư ng công an phát hiện chiếc xe bị cáo đang quản lý là xe của ai nên càng chứng tỏ rõ mục đ ch chiếm đoạt tài sản của bị cáo.

T nh ng phân tích trên, Hội đ ng xét xử có đủ cơ sở kết lu n: Khoảng 17 giờ 30 ph t ngày 16/5/2020, tại trước cửa số nhà 250, đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Văn X có hành vi trộm cắp 01 chiếc e mô tô nh n hiệu Honda Future, màu sơn ám đen gắn biển kiểm soát 29X1-301.89 trị giá 12.000.000 đ ng, của ông Trần Thanh B, sinh năm 1969, tr tại số nhà 250, đường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Hành vi của bị cáo đ đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản đư c quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ lu t Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo theo tội danh và Điều khoản trên là có căn cứ, đ ng pháp lu t.

Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở h u về tài sản đư c pháp lu t bảo vệ. Chỉ vì l i ch trước mắt, bị cáo đ lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, gây mất tr t tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong nội bộ quần chúng nhân dân.

Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, đ 02 lần bị xử phạt vi phạm hành ch nh và 06 lần bị xét xử về hình sự nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Sau khi phạm tội, bị cáo không tỏ ra ăn năn, hối cải chứng tỏ bị cáo là đối tư ng coi thường pháp lu t. Do đó, cần phải có một hình phạt nghiêm khắc, tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách li bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, biết tuân thủ pháp lu t.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không đư c áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 51, 52 Bộ lu t Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết do bị hại không có yêu cầu.

Về v t chứng của vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy 01 balo màu anh có ch QĐND Việt Nam đ qua sử dụng; 01 quần đ i tối màu có sọc viền trắng.

Đối với chiếc e có số máy C54E-0099176, số khung RLHJC5313CY044173 kết quả tra cứu là chiếc xe đăng ký mang tên anh Nguyễn D ng H, sinh năm 1980, tr tại số 283, đường Nguyễn Văn L, phường Bần Yên N, thị Mỹ H, tỉnh Hưng Yên. nh H khai bị mất trộm chiếc e trên vào tháng 02/2014 tại thị Mỹ H, tỉnh Hưng Yên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đ có công văn đề nghị Công an thị Mỹ H, tỉnh Hưng Yên tiếp nh n chiếc e để ử lý theo thẩm quyền là đ ng quy định.

Đối với chiếc biển kiểm soát 29X1-301.89 kết quả tra cứu là biển kiểm sát của chiếc e loại SH 150i đăng ký tên anh Lê Ch Th, sinh năm 1972, tr tại khu n P, thị trấn Ch c S, huyện Chương M, Hà Nội. nh Th khai bị trộm cắp chiếc e khoảng tháng 3/2014 tại qu n HK, thành phố Hà Nội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đ có công văn đề nghị Công an qu n HK, thành phố Hà Nội tiếp nh n v t chứng để ử lý theo thẩm quyền là phù h p.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 38; Điều 47 của Bộ lu t Hình sự;

Căn cứ Điều 106; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ lu t Tố tụng Hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn X phạm tội Trộm cắp tài sản ;

- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn X 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính t ngày 17/5/2020.

- Về v t chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 balo màu anh có ch QĐND Việt Nam đ qua sử dụng; 01 quần đ i tối màu có sọc viền trắng.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền l i và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể t ngày nh n đư c hoặc niêm yết bản án.

Trường h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Lu t thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Lu t thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t thi hành án dân sự ./.

Cỡ chữ