vanban.org

Bản án 141/2020/DS-PT — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 30/09/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/09/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Kim T1.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2020/DS-ST ngày 23/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện C., tỉnh An Giang tuy nhiên có sửa về cách tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Phan Thị Kim T. kiện Nguyễn Kim T1."
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Kim T1.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

__________
Bản án số: 141/2020/DS-PT
Ngày: 30/9/2020
V/v Tranh chấp hợp đồng góp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hoàng Thám

Ông Phạm Tấn Tài

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Yến Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh

An Giang

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:

Bà Lương Thị Hương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An

Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 173/2020/TLPT-DS ngày 07

tháng 8 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 20/2020/DS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2020

của Tòa án nhân dân huyện C., tỉnh An Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 177/2020/QĐ-PT

ngày 07 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị Kim T., sinh năm 1957; nơi cư trú: ấp Đ., xã

M., huyện C., tỉnh An Giang (Vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lê Thị C., sinh năm

1962; nơi cư trú: ấp L., xã L.B, huyện C., tỉnh An Giang (Theo văn bản ủy

quyền ngày 25/12/2019) (Vắng mặt).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Kim T1., sinh năm 1953; nơi cư trú: ấp Đ., xã M.,

huyện C., tỉnh An Giang (Có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Kim T1.: Ông

Nguyễn Văn B. là Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Kiên Giang. Địa chỉ: Số

1169/2 ấp P., xã M., huyện C1., tỉnh Kiên Giang (Có mặt)

Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Kim T1..

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu kèm theo và quá trình tố tụng tại phiên

tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị C. trình bày:

Do chỗ quen biết nên bà T. có tham gia các dây hụi do bà T1. làm chủ với

tên trong danh dách hụi là “Thiếm 8 Cầu Ông Địa”:

Dây hụi thứ nhất: 1.000.000 đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 06/12/2017

âm lịch, gồm 21 hụi viên, bà T. tham gia 02 phần. Hụi khui được 8 lần, đến lần thứ 9 thì bà T1. ngưng không khui tiếp. Dây hụi này bà đã chầu được 16.000.000 đồng (8.000.000 đồng x 2 phần).

Dây hụi thứ hai: 1.000.000 đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 13/02/2018 âm

lịch, gồm 21 hụi viên, bà T. tham gia 01 phần. Hụi khui được 6 lần, đến lần thứ 7 thì bà T1. ngưng không khui tiếp. Dây hụi này bà đã chầu được 6.000.000 đồng.

Ngoài ra, bà T1. còn nợ bà T. số tiền vay 35.000.000 đồng. Tổng cộng số

tiền hụi và vay bà T1. nợ bà T. là 55.000.000 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Lê Thị C. là người đại diện theo ủy quyền của

nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu bà T1. trả số tiền vay 35.000.000 đồng, bà T. chỉ yêu cầu bà T1. trả số tiền hụi 22.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn bà Nguyễn Kim T1. trình bày: Trước đây bà có làm chủ một số dây

hụi. Đối với yêu cầu của bà T., bà sẽ về nhà kiểm tra lại và có ý kiến sau. Bà không có vay tiền của bà T., chữ ký và chữ viết trong biên nhận vay không phải của bà nhưng bà không yêu cầu giám định. Còn đối với chữ ký trong danh sách hụi để bà kiểm tra lại, bà không biết bà T..

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Kim T1., Luật sư

Nguyễn Văn B. trình bày: Bà T1. có làm chủ hụi nhưng bà T. không tham gia chơi hụi của bà T1. và bà T1. cũng không biết các dây hụi mà bà T. trình bày. Do đó, bà T1. không đồng ý theo yêu cầu của bà T..

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 20/2020/DS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2020

của Toà án nhân dân huyện C. tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim T..

Buộc bà Nguyễn Kim T1. có nghĩa vụ trả cho bà Phan Thị Kim T. số tiền

hụi 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu đồng).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương

sự.

Ngày 20/5/2020 bà Nguyễn Kim T1. có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc

thẩm xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bà Lê Thị C. đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử

vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

Bị đơn bà Nguyễn Kim T1. vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp

sơ thẩm. Về kháng cáo: Bà xin thay đổi một phần nội dung kháng cáo. Căn cứ

vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bà đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem

xét chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra bà T1. còn

có đơn xin miễn án phí sơ thẩm và phúc thẩm do bà là người cao tuổi.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Kim T1., Luật sư

Nguyễn Văn B. trình bày: Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

buộc bị đơn trả 22.000.000 đồng. Căn cứ theo quy định của pháp luật, chủ hụi

phải cung cấp đầy đủ sổ hụi có xác nhận số lần hụi viên đóng còn việc ký nhận

giao tiền hụi giữa chủ hụi và hụi viên là quyền và nghĩa vụ của các bên tùy theo

yêu cầu của từng hụi viên. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không

cung cấp được chứng cứ chứng minh có giao tiền cho chủ hụi. Do đó, đề nghị

Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, chấp nhận kháng cáo

của bị đơn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai

đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét

xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung: Quá trình giải quyết ở cấp phúc thẩm và tại phiên tòa

người kháng cáo không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của

mình nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng

dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được

xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử

nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bà Nguyễn Kim T1. kháng cáo trong hạn luật định, là người cao tuổi

và có đơn xin nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí; do đó

đơn kháng cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bà Lê Thị C. đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét

xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét

xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Bà C. đại diện theo ủy quyền cho bà T. rút lại

một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu bà T1. trả số tiền vay 35.000.000

đồng là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật, các đương sự không có kháng cáo nên đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm khi tuyên án không đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này là có thiếu xót cần rút kinh nghiệm.

Xét yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Kim T1.: Căn cứ vào tài liệu

chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay thấy rằng:

Nguyên đơn bà Phan Thị Kim T. khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Kim

T1. phải trả cho bà tổng số tiền 02 dây hụi là 22.000.000 đồng với chứng cứ là 02 danh sách hụi viên, trong đó hụi viên có tên “thiếm 8 hay thiếm tám cầu Ô Địa” theo lời bà T. trình bày chính là tên thường gọi của bà ở nhà. Trong khi đó, bà T1. cho rằng không biết bà T., còn chữ ký trong danh sách hụi để bà kiểm tra lại và có ý kiến sau nhưng đến khi xét xử sơ thẩm bà vẫn không có ý kiến trình bày.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cũng như cấp

phúc thẩm đã tiến hành thu thập thêm chứng cứ là lời khai của những người làm chứng như bà Nguyễn Thị L., bà Trần Thị Kim Q. (tên trong danh sách hụi là 6 H.), bà Bùi Thị Y. (tên trong danh sách hụi là 2 T2) và bà Huỳnh Thị Kim C1. (tên trong danh sách hụi là Tư S.). Tất cả những người này đều cho rằng có cùng tham gia chơi các dây hụi trên với bà T., các dây hụi này khui được khoảng 6 – 8 lần thì ngưng không khui tiếp và có đi khui hụi chung nên biết bà T. được ghi tên trong danh sách hụi là “Thiếm 8 hay thiếm tám cầu Ô Địa” vì do bà T. thứ 8, nhà ở gần cầu Ông Địa”. Đồng thời theo biên bản xác minh ngày 01/09/2020, ông Nguyễn Văn Th. là Phó ấp Đ. thuộc xã M. cũng xác nhận bà T. có tên thường gọi ở nhà là “Thiếm 8 hay thiếm tám cầu Ông Địa”.

Ngoài ra, quá trình xét xử phúc thẩm, bà T1. có cung cấp cho Tòa án

danh sách 02 dây hụi do bà làm chủ khui ngày 06/12/2017 và khui ngày 13/02/2018 âm lịch. Qua kiểm tra, đối chiếu danh sách thứ tự, tên hụi viên đều trùng khớp với danh sách do bà T. cung cấp và tại phiên tòa phúc thẩm bà T1. cũng thừa nhận bà T. có tham gia các dây hụi này nhưng bà cho rằng bà T. chỉ đóng được 01 lần đối với cả hai dây hụi rồi ngưng. Tuy nhiên, bà T1. không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho những lần giao nhận tiền hụi giữa hai bên ngoài quyển sổ hụi do chính bà trực tiếp ghi và đánh dấu. Ngoài ra, theo bà T1. trình bày thì thời điểm bà tuyên bố vỡ hụi là khoảng tháng 06 năm 2018 cũng tương đương với thời điểm ngưng khui hụi như những người làm chứng đã trình bày. Như vậy, kể từ thời điểm bắt đầu khui hụi cho đến khi tuyên bố bể hụi, theo tập quán cũng như thói quen góp hụi tại địa phương thì tất cả các hụi viên buộc phải đóng đầy đủ số tiền góp hụi định kỳ khui hụi theo như thỏa thuận; nếu bà T. không đóng thì tại sao bà T1. không yêu cầu. Cho nên, việc bà T1. khai nại là không có cơ sở xem xét.

Từ những phân tích trên cho thấy cấp sơ thẩm xem xét chấp nhận

yêu cầu khởi kiện của bà T. là có căn cứ. Bà Nguyễn Kim T1. kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Do đó, Hội đồng xét xử không

chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T1., giữ nguyên bản án sơ thẩm tuy nhiên

có sửa cách tuyên.

Về án phí:

Bà T. được chấp nhận yêu cầu khởi kiện không phải chịu án phí, lẽ ra phải

tuyên trả tạm ứng án phí cho bà. Tuy nhiên, bà là người cao tuổi, có đơn xin nên

thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm do đó Tòa án

không đặt ra xem xét nhưng vẫn phải nhận định trong bản án. Cấp sơ thẩm

không thực hiện là thiếu sót, cần rút kinh nghiệm.

Bà T1. bị buộc phải trả tiền cho bà T. và kháng cáo không được chấp nhận

nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm theo quy định. Tuy nhiên, do

bà T1. là người cao tuổi, tại giai đoạn phúc thẩm bà có đơn xin miễn án phí sơ

thẩm và phúc thẩm nên được miễn nộp tiền án phí theo quy định tại điểm đ Điều

12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội.

Do đó cần phải sửa án sơ thẩm về phần án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Kim T1..

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2020/DS-ST ngày 23/4/2020

của Tòa án nhân dân huyện C., tỉnh An Giang tuy nhiên có sửa về cách tuyên:

Áp dụng Điều 282, Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 35,

Điều 39, Điều 144, Điều 146, Điều 147, Điều 217, Điều 228, Điều 235 và Điều

244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc

Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa

án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim T.. Buộc bà Nguyễn

Kim T1. có nghĩa vụ trả cho bà Phan Thị Kim T. số tiền hụi 22.000.000 đồng

(hai mươi hai triệu đồng).

2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim T. đối với số tiền vay

35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đổng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không

thi hành đầy đủ khoản tiền nêu trên thì còn phải chịu lãi phát sinh do chậm thực

hiện nghĩa vụ theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm

2015 tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành.

3. Về án phí:

Bà Nguyễn Kim T1. là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn nộp án

phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ