vanban.org

Bản án 141/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 08/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Mùa A K 08 (Tám) năm tù.

Xử phạt bị cáo Vàng Thị S 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 08/3/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Truy thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 920.000đ (Chín trăm hai mươi nghìn đồng) đối với Mùa A K. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùa A K + Vàng Thị S Về tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Mùa A K 08 (Tám) năm tù.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141/2019/HS-ST
Ngày 08-8-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Tăng Thị Hải Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tăng Văn Xiến và bà Đỗ Thị Chúc.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bình Phương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hương Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 141/2019/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2019/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Mùa A K, sinh năm: 1965 tại huyện Y, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản T1, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá (học vấn): 2/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Mùa Lao P và bà Hạng Thị C (đều đã chết); Có vợ là Vàng Thị S và có 08 con (02 con đã chết); Tiền án, Tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05 tháng 3 năm 2019 đến nay; có mặt.

2. Vàng Thị S, sinh năm: 1963 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản T1, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá (học vấn): Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vàng A M và bà Mùa Thị S (đều đã chết); Có chồng là Mùa A K (Là bị cáo trong cùng vụ án) và có 08 con (02 con đã chết);Tiền án, Tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08 tháng 3 năm 2019 đến nay; có mặt.

Người làm chứng:

- Anh Mùa A V, sinh năm 1999, vắng mặt.

- Anh Mùa A D, sinh năm 1973, vắng mặt.

- Anh Mùa A L, sinh năm 1997, vắng mặt.

Người phiên dịch: Anh Tráng A L.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 00 phút ngày 05/3/2019, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, tổ công tác Công an huyện Mộc Châu đến nhà Mùa A K kiểm tra hành chính về ma túy. Tổ công tác yêu cầu Mùa A K có gì liên quan đến ma túy thì tự giác giao nộp. Mùa A K đã tự giác lấy từ trên giường ngủ của K ra giao nộp cho tổ công tác: 02 gói nilon màu xanh, bên trong mỗi gói đựng 02 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine (tổng cộng 04 viên). Đồng thời Mùa A K khai nhận số 04 viên nén màu hồng tổ công tác thu giữ là ma túy hồng phiến của K, cất giấu mục đích để bán kiếm lời. Căn cứ vào hành vi vi phạm của Mùa A K, tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật. Tạm giữ: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu GIONEE L800, màu đỏ đen, đã qua sử dụng.

Mở rộng điều tra, ngày 05/03/2019 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã thi hành lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở, đồ vật của Mùa A K. Quá trình khám xét đã thu giữ tại đầu giường ngủ trong nhà Mùa A K: 01 túi nilon màu xanh bên trong đựng 155 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY, nghi là Methamphetamine.

Ngày 05/03/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu phối hợp với VKSND huyện Mộc Châu và phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, xác định số lượng, khối lượng số vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Mùa A K được như sau:

Đối với 04 viên nén màu hồng nghi là Methamphetamine thu giữ khi bắt quả tang Mùa A K được: 0,4 gam, lấy 02 viên có khối lượng 0,2 gam làm mẫu gửi giám định, mẫu ký hiệu “K1”; Còn lại 02 viên = 0,2 gam, ký hiệu “A1”.

Đối với 155 viên nén màu hồng nghi là Methamphetamine thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Mùa A K được: 15,05 gam, lấy 05 viên có khối lượng 0,47 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu “K2”; Còn lại 150 viên = 14,58 gam, ký hiệu “A2”.

Trưng cầu giám định xác định mẫu ký hiệu “K1” và “K2” có phải ma túy không, loại ma túy gì? khối lượng của mẫu gửi giám định là bao nhiêu? Tổng khối lượng vật chứng thu giữ?

Kết luận giám định số 543 ngày 06/03/2019 của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu “K1” và “K2” đều là ma túy; loại Methamphetamine; tổng khối lượng mẫu gửi giám định là 0,67 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 15,45 gam, loại Methamphetamine.

Mở rộng điều tra ngày 08/3/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu thi hành lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Vàng Thị S về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Quá trình điều tra đủ căn cứ chứng minh từ ngày 03/12/2018 đến ngày 05/3/2019, Mùa A K và Vàng Thị S đã có hành vi bán trái phép chất ma túy như sau:

Hành vi bán trái phép chất ma túy của Mùa A K và Vàng Thị S cho Mùa A V cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 12 giờ ngày 03/12/2018, Mùa A V đi bộ đến nhà Mùa A K tại Bản T1, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La gặp và hỏi mua ma túy của K. Qua trao đổi Mùa A K đã bán cho Mùa A V 03 viên Methamphetamine với giá 150.000đ. Sau khi mua được ma túy Mùa A V đi về và đã sử dụng hết số ma túy trên.

Lần thứ hai: Khoảng 15 giờ ngày 08/12/2018, Mùa A V đi bộ đến nhà Mùa A K gặp, hỏi mua ma túy của K. Qua trao đổi Mùa A K đã bán cho Mùa A V 02 viên Methamphetamine với giá 100.000đ. Sau khi mua được ma túy Mùa A V đi về và đã sử dụng hết số ma túy trên.

Lần thứ ba: Khoảng 18 giờ ngày 05/01/2019, Mùa A V gọi điện thoại di động cho Mùa A K hỏi mua ma túy, K đồng ý. Nhưng do K không có ở nhà, nên K bảo V đến nhà K gặp vợ K là Vàng Thị S để mua ma túy, V đồng ý. Sau đó K gọi điện thoại di động cho S và bảo S lấy 01 viên ma túy trong túi nilon màu xanh để trên nắp chiếc hòm gỗ trong buồng ngủ bán cho V, S đồng ý. Sau đó S đã lấy 01 viên Methamphetamine như theo chỉ dẫn của K bán cho V với giá 50.000đ. Sau khi mua được ma túy Mùa A V đi về và đã sử dụng hết số ma túy trên. Đối với số tiền 50.000đ, S đã đưa lại cho K.

Lần thứ tư: Vào khoảng giữa tháng 01 năm 2019, Mùa A V đi bộ đến nhà Mùa A K gặp, hỏi mua ma túy của K. Qua trao đổi Mùa A K đã bán cho Mùa A V 03 viên Methamphetamine với giá 150.000đ. Sau khi mua được ma túy Mùa A V đi về và đã sử dụng hết số ma túy trên.

Lần thứ năm: Vào khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 02/3/2019, Mùa A V đi bộ đến nhà Mùa A K gặp, hỏi mua ma túy của K. Qua trao đổi Mùa A K đã bán cho Mùa A V 03 viên Methamphetamine với giá 150.000đ. Sau khi mua được ma túy Mùa A V đi về và đã sử dụng hết số ma túy trên.

Hành vi bán trái phép chất ma túy của Mùa A K cho Mùa A D cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào trưa ngày 07/12/2018, Mùa A D đi bộ đến nhà Mùa A K tại Bản T1, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, hỏi mua thuốc phiện của K. Qua trao đổi Mùa A K đã bán cho Mùa A D 01 gói nilon màu xanh bên trong đựng nhựa thuốc phiện với giá 70.000đ. Sau khi mua được ma túy Mùa A D đi về và đã sử dụng hết số ma túy trên.

Lần thứ hai: Vào buổi sáng ngày 11/12/2018, Mùa A D đi bộ đến nhà Mùa A K gặp, hỏi mua ma túy của K. Qua trao đổi Mùa A K đã bán cho Mùa A D 04 viên Methamphetamine với giá 200.000đ. Sau khi mua được ma túy Mùa A D đi về và đã sử dụng hết số ma túy trên.

Hành vi bán trái phép chất ma túy của Mùa A K cho Mùa A L (Sinh năm: 1997; Cư trú tại: Bản T1, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La) cụ thể như sau: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 28/02/2019, Mùa A L đi bộ đến nhà Mùa A K tại Bản T1, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La gặp, hỏi mua ma túy của K. Qua trao đổi Mùa A K đã bán cho Mùa A L 01 viên Methamphetamine với giá 50.000đ. Sau khi mua được ma túy Mùa A L đi về và đã sử dụng hết số ma túy trên.

Đối với số tiền 920.000đ do bán trái phép chất ma túy mà có, Mùa A K đã chi tiêu cá nhân hết, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu không thu giữ được.

Đối với nguồn gốc số ma túy Mùa A K đã bán và bị thu giữ Mùa A K khai: Khoảng đầu tháng 12 năm 2018, Mùa A K đi bộ đến nhà của Hạng Thị G mục đích mua ma túy để bán kiếm lời. Khi gặp G, K đã hỏi và mua được của G 01 gói nilon màu xanh bên trong đựng 176 viên nén màu hồng là Methamphetamine với giá 5.000.000đ, đồng thời K xin được của G 01 gói nilon xanh bên trong đựng một ít nhựa thuốc phiện. K thỏa thuận, thống nhất với G khi nào bán hết ma túy sẽ trả tiền mua ma túy cho G. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã nhiều lần triệu tập và xác minh nhưng Hạng Thị G không có mặt ở địa phương. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu tách phần liên quan đến Hàng Thị G ra điều tra, xử lý sau.

Cáo trạng số 141/CT-VKSMC ngày 23/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Mùa A K về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và bị can Vàng Thị S về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Mùa A K và Vàng Thị S phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng các căn cứ pháp luật xử phạt bị cáo như sau:

1. Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm r, s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Mùa A K từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vàng Thị S từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:

Truy thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với Mùa A K số tiền 920.000đ.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu GIONEE L800 bên trong lắp 02 sim thu giữ của Mùa A K.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 14,78 gam Methamphetamine cùng gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy của Mùa A K; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi tert thử ma túy của Mùa A V; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy của Mùa A D; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy của Mùa A L; 01 vỏ phong bì đã dùng để niêm phong 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu GIONEE L800 cùng vỏ gói niêm phong ban đầu.

4. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo Mùa A K và Vàng Thị S khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai trong quá trình điều tra.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của các bị cáo và trách nhiệm hình sự:

Tại phiên toà, các bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, các bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Các bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu. Các bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc các bị cáo đã thực hiện.

Xét lời khai của các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng,biên bản cân xác định trọng lượng, kết luận giám định, Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp; vật chứng đã thu giữ, lời khai của người làm chứng có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Đầu tháng 12 năm 2018, Mùa A K mua được 176 viên Methamphetamine và 01 gói nhựa thuốc phiện. Từ ngày 03/12/2018 đến ngày 02/03/2019, Mùa A K đã có 08 lần bán trái phép 01 gói nhựa thuốc phiện và 17 viên Methamphetamine cho các đối tượng Mùa A V, Mùa A D và Mua A L với tổng số tiền là 920.000 đồng, để Mùa A V, Mùa A D và Mua A L sử dụng cho bản thân nghiện chất ma túy. Còn lại 159 viên Methamphetamine có tổng khối lượng là 15,45 gam Mùa A K chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt giữ, hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định mức hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

Ngày 05/01/2019, Vàng Thị S đã có hành vi giúp sức cho Mùa A K bán trái phép 01 viên Methamphetamine cho Mùa A V với giá 50.000 đồng, để Mùa A V sử dụng, hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định mức hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Phân hóa vai trò phạm tội của các bị cáo: Bị cáo Mùa A K là người khởi sướng trực tiếp bán ma túy 07 lần và đã chỉ đạo Vàng Thị S tham gia bán ma túy một lần, do đó bị cáo Mùa A K giữ vai trò chính trong vụ án. Bị cáo Vàng Thị S đã tham gia cùng Mùa A K bán ma túy 01 lần, do đó là đồng phạm trong vụ án.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Mùa A K là rất nghiêm trọng, bị cáo Vàng Thị S là nghiêm trọng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.

Các bị cáo nhận thức hành vi Mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, cần cách ly các bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo cũng cần xem xét:

Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Ngoài ra, bị cáo Mùa A K người phạm tội tự thú và tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm (khai ra hành vi phạm tội của bị cáo Vàng Thị S) đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Mùa A K.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiện hình sự.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng các bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với số tiền 920.000 đồng là tiền bị cáo Mùa A K phạm tội mà có, bị cáo đã chi tiêu sử dụng cá nhân hết do vậy truy thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu GIONEE L800 bên trong lắp 02 sim của Mùa A K bị cáo đã sử dụng làm công cụ để phạm tội do vậy cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 14,78 gam Methamphetamine cùng gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy của Mùa A K; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy của Mùa A V; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy của Mùa A D; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy của Mùa A L; 01 vỏ phong bì đã dùng để niêm phong 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu GIONEE L800 cùng vỏ gói niêm phong ban đầu là vật Nhà nước cấm Mua bán, lưu hành và không có giá trị sử dụng, đều cần tịch thu tiêu huỷ..

Đối với Hạng Thị G đã bán ma túy cho Mùa A K (như bị cáo khai) cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã nhiều lần triệu tập và xác minh nhưng Hạng Thị G không có mặt ở địa phương. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu tách phần liên quan đến Hàng Thị G ra điều tra, xử lý sau, do vậy không đề cập đến việc xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Mùa A V, Mùa A D và Mùa A L là hành vi vi phạm hành chính. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã bàn giao các đối tượng cho Công an xã Chiềng Hắc, huyện Mộc Châu lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã theo quy định của pháp luật, do vậy không đề cập đến việc xử lý.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Xét thấy thời hạn tạm giam của các bị cáo còn trên 45 ngày, Hội đồng xét xử không ra quyết định tạm giam đối với các bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm r, s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Mùa A K phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Mùa A K 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 05/3/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Vàng Thị S phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Vàng Thị S 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 08/3/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:

Truy thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 920.000đ (Chín trăm hai mươi nghìn đồng) đối với Mùa A K.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu GIONEE L800 bên trong lắp 02 sim thu giữ của Mùa A K.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 14,78 gam Methamphetamine cùng gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy của Mùa A K; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy của Mùa A V; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy của Mùa A D; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy của Mùa A L; 01 vỏ phong bì đã dùng để niêm phong 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu GIONEE L800 cùng vỏ gói niêm phong ban đầu.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Các bị cáo phải chịu mỗi bị cáo là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ