vanban.org

Bản án 141/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 30/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tường Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Huỳnh Tường Q 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/07/2019. Trả cho bà Chiêng Ngọc L 01 xe mô tô hiệu Yamaha, biển kiểm soát 5224-0516, số máy: 5WP1-029.10, số khung: RLCM5WP104Y002910; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Tường Q trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tường Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141/2019/HS-ST
Ngày: 30/9/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Hải Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Anh Hồng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án Nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 136/2019/HSST ngày 19 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 762/2019/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Huỳnh Tường Q, sinh ngày 28 tháng 01 năm 1984 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT: X đường BVD, Phường 1, Quận 4. Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: X đường DHP, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Xe ôm; Con ông Huỳnh Văn Q (sinh năm 1947) và bà Nguyễn Thị Ngọc T (sinh năm 1954); Vợ: Chiêng Ngọc L (sinh năm 1984); Con: có 02 trẻ, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2015; Bị tạm giam từ ngày: 20/7/2019.

1. Bị hại: Ông Trần Phong V, sinh năm 1993

Địa chỉ: Số X đường LVL, xã Phước Kiểng, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

2. Người làm chứng:

2.1 Ông Lê Xuân T, sinh năm 1992

Địa chỉ: Số X đường 101, ấp giữa, xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

2.2 Ông Trần Đức M, sinh năm 1986

Địa chỉ: Số X đường CT, Phường 12, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

2.3 Ông Đỗ Hồng L, sinh năm 1990

Địa chỉ: Số X đường CH, phường 13, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Chiêng Ngọc L, sinh năm 1984

Địa chỉ: Số X đường AC, Phường 9, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 03 giờ ngày 20/7/2019, Huỳnh Tường Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 52P4-0516 lưu thông trên đường Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 1. Khi đến trước nhà chờ xe buýt số 55B Nguyễn Thị Minh Khai, phường Bến Thành, Quận 1, Q nhìn thấy anh Trần Phong V đang nằm ngủ trên ghế của nhà chờ xe buýt, bên cạnh có 01 túi xách màu đen và một số lon bia dưới đất. Q lay anh V dậy nhưng không thấy anh V tỉnh giấc, nghĩ anh V ngủ say nên Q nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của anh V. Q dùng tay lấy túi xách của anh V (bên trong vụ xách có 01 máy tính xách tay, 01 bóp da bên trong bóp có 5.070.000 đồng) để lên xe rồi bỏ đi. Lúc này tổ tuần tra Công an Quận 1 gồm các ông Đô Hồng L, Trần Đức M và Lê Xuân T chứng kiến toàn bộ sự việc nên đã truy đuổi theo Q, khi đến trước số 03 Huyền Trân Công Chúa, Quận 1 thì tổ tuần tra bắt giữ được Q cùng tang vật giao cho Công an phường Bến Thành, Quận 1 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 xử lý.

Theo kết luận định giá tài sản số 287/KL-HĐĐGTS ngày 24/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, 01 túi xách màu đen không nhãn hiệu trị giá 100.000 đồng; 01 bóp da màu nâu không nhãn hiệu trị giá 50.000 đồng; 01 máy tính xách tay hiệu Asus model K53S màu đen trị giá 2.300.000 đồng. Tổng trị giá 2.450.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1, Huỳnh Tường Q khai nhận hành vi chiếm đoạt tài sản, tổng trị giá 7.520.000 đồng của ông Trần Phong V như trên. Lời khai nhận tội của Q phù hợp với các tài liệu chứng cứ cơ quan điều tra đã thu thập được.

Vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự:

- 01 túi xách màu đen, bên trong có: 01 máy tính xách tay hiệu ASUS model K53S màu đen; 01 bóp da nhỏ màu nâu.

- 5.070.000 đồng tiền ngân hàng Việt Nam.

Ngày 20/7/2019 Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận 1 đã trả lại cho bị hại anh Trần Phong V, anh V không yêu cầu gì thêm

- 01 xe mô tô hiệu Yamaha, biển kiểm soát 5224-0516, số máy: 5WP1-029.10, số khung: RLCM5WP104Y002910. Qua xác minh do ông Huỳnh Văn T (thường trú: 17/30A Cách mạng tháng 8, phường 15, quận Tân Bình - đã chết năm 2013) đứng tên đăng ký, bà Chiêng Ngọc L (vợ bị can Q) mua lại chiếc xe trên của ông T vào năm 2013 nhưng chưa sang tên đổi chủ. Bà L cho bị can Q mượn xe để sử dụng, không biết Q sử dụng xe làm phương tiện phạm tội.

Thu giữ của bị can Q:

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số Imei: 354467071093234;

- 01 áo khoác có chữ Grab;

- 01 nón bảo hiểm có chữ Grab;

- 01 áo thun màu nâu;

- 01 quần Jean dài màu xanh.

Hiện Công an Quận 1 đang tạm giữ số vật chứng trên.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 04/QĐ-VKS ngày 18 tháng 9 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Huỳnh Tường Q bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên tòa kết luận bị cáo Huỳnh Tường Q đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, tài sản đã thu hồi trả cho bị hại, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đề nghị Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Q từ 09 đến 12 tháng tù. Đối với vật chứng của vụ án: Tài sản bị trộm cắp đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì khác về trách nhiệm dân sự; các vật chứng còn lại đề nghị Hội đồng xét xử trả cho bà Chiêng Ngọc L 01 xe mô tô hiệu Yamaha, biển kiểm soát 5224-0516, số máy: 5WP1-029.10, số khung: RLCM5WP104Y002910 do xe được bà L cho bị cáo Q mượn xe để sử dụng, không biết Q sử dụng xe làm phương tiện phạm tội; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số Imei: 354467071093234 do không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác có chữ Grab, 01 nón bảo hiểm có chữ Grab, 01 áo thun màu nâu, 01 quần Jean dài màu xanh thu giữ của bị cáo do không còn giá trị sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để xác định vào ngày 20/07/2019, Huỳnh Tường Q đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở của người bị hại anh Trần Phong V trong việc quản lý tài sản đã lén lút chiếm đoạt tài sản của anh V là 01 túi xách màu đen trong có 01 bóp da màu nâu có số tiền 5.070.000 đồng và 01 máy tính xách tay hiệu Asus model K53S màu đen.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 287/KL-HĐĐGTS ngày 24/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định 01 túi xách màu đen không nhãn hiệu trị giá 100.000 đồng; 01 bóp da màu nâu không nhãn hiệu trị giá 50.000 đồng; 01 máy tính xách tay hiệu Asus model K53S màu đen trị giá 2.300.000 đồng. Tổng trị giá 2.450.000 đồng. Ngoài ra, trong bóp còn có số tiền 5.070.000 đồng. Như vậy tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 7.520.000 đồng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái nhưng vì động cơ tư lợi cá nhân nên vẫn cố tình thực hiện. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe đối với bản thân bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.

Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, nhận thấy bị cáo có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, tài sản đã thu hồi trả cho bị hại; phạm tội lần đầu ít nghiêm trọng nên khi lượng hình Hội đồng xét xử áp dụng điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: 01 túi xách màu đen, bên trong có: 01 máy tính xách tay hiệu ASUS model K53S màu đen; 01 bóp da nhỏ màu nâu; 5.070.000 đồng tiền ngân hàng Việt Nam. Ngày 20/7/2019 Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1 đã trả lại cho bị hại anh Trần Phong V, người bị hại không còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Trả cho bà Chiêng Ngọc L 01 xe mô tô hiệu Yamaha, biển kiểm soát 5224-0516, số máy: 5WP1-029.10, số khung: RLCM5WP104Y002910 do xe được bà Liên cho bị cáo Q mượn xe để sử dụng, không biết Q sử dụng xe làm phương tiện phạm tội;

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số Imei: 354467071093234 do không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;

- Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác có chữ Grab, 01 nón bảo hiểm có chữ Grab, 01 áo thun màu nâu, 01 quần Jean dài màu xanh thu giữ của bị cáo do không còn giá trị sử dụng.

(Phiếu nhập kho vật chứng số 275/19-PNK ngày 09/9/2019).

. Án phí hình sự sơ thẩm: 200.000 đồng bị cáo chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tường Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt Huỳnh Tường Q 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/07/2019.

- Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Trả cho bà Chiêng Ngọc L 01 xe mô tô hiệu Yamaha, biển kiểm soát 5224-0516, số máy: 5WP1-029.10, số khung: RLCM5WP104Y002910;

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số Imei: 354467071093234 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;

Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác có chữ Grab, 01 nón bảo hiểm có chữ Grab, 01 áo thun màu nâu, 01 quần Jean dài màu xanh.

(Phiếu nhập kho vật chứng số 275/19-PNK ngày 09/9/2019)

- Áp dụng Điều 135; 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Huỳnh Tường Q phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo Huỳnh Tường Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./

Cỡ chữ