- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 139 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 141/2018/HS-ST Ngày: 03-7-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Mộng Lành
2. Bà Nguyễn Thị Tỉnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Võ Thu Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 03/7/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 158/2018/HSST ngày 10/5/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2018/QĐXXST-HS ngày 04/6/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 73/2018/HSST-QĐ ngày 18/6/2018 đối với bị cáo:
Lê Thanh T, sinh năm 1997 tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Tổ X, đường T, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở: hẻm X, đường H, phường V, thành phố N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch Việt Nam; con ông Lê T và bà Trần Thị H; tiền án; tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/02/2018; có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
1/ Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1994; trú tại: đường V, phườngV, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
2/ Anh Nguyễn Thúc S, sinh năm 1991; trú tại: đường T, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1995; trú tại: đường P, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; có mặt.
2/ Anh Nguyễn Minh Tr, sinh 09/10/2002; trú tại: tổ V, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (Anh Trí đang bị tạm giam trong một vụ án khác); có mặt. Người đại diện hợp pháp cho anh Tr là bà Nguyễn Thị L trú tại: trú tại: tổ V, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; anh Tr và bà L có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mối quan hệ quen biết từ trước, khoảng 01 giờ ngày 07/10/2017, Nguyễn Văn Th nhờ Lê Thanh T mua giúp một cây kiếm Nhật. T đồng ý và hẹn đến sáng sẽ mua giúp Th với giá 400.000 đồng.
Do không có tiền mua ma túy nên T nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt xe máy Exiter và số tiền 400.000 đồng của Th. T gặp Nguyễn Minh Tr, nói cho Tr về việc Th nhờ mua 01cây kiếm Nhật và nhờ Tr giả làm người bán kiếm. Khi T hẹn Th đến giao kiếm, T sẽ mượn xe máy Exciter của Th rồi đưa cho Tr đi lấy kiếm. Khi Th giao xe và tiền cho Tr, thì Tr mang xe đi rồi giả vờ gọi điện thoại cho T để T lấy lý do bỏ trốn, cả hai sẽ chiếm đoạt xe máy và tiền của Th. Tr đồng ý.
Khoảng 09 giờ ngày 07/10/2017, T hẹn Th đến tiệm Internet H (địa chỉ: đường C, phường V, thành phố N) để lấy kiếm. Khi Th điều khiển xe máy Exciter, biển kiểm soát 79H – xxxx, chở bạn là anh Nguyễn Thúc S đến gặp T, Tr. T nói Th giao xe và 400.000 đồng cho Tr để Tr về lấy kiếm. Th không đồng ý giao xe thì T nói “Có tao đứng đây với mày mà lo gì, có gì tao dẫn mày qua nhà thằng Ken (Tr)”. Do tin tưởng T nên Th giao xe máy và 400.000 đồng cho Tr. Tr điều khiển xe máy bỏ đi, Th, T và S ngồi đợi. Khoảng 30 phút không thấy Tr quay lại nên T giả vờ mợn điện thoại di động của S để gọi cho Tr. Theo như đã bàn bạc từ trước, Tr nói là gia đình không cho đi, nói T qua nhà Tr ở đường Nguyễn B lấy xe và kiếm nhưng thực chất là để cho Tcó cơ hội trốn thoát. T dẫn Th và S đến đường Nguyễn B và cầm điện thoại Nokia X1 mượn của S giả vờ gọi cho Tr, sau đó nói Th, S đứng đợi. T cầm điện thoại đi một mình vào nhà Tr lấy xe và kiếm. Tin tưởng T, Th và S đứng đợi, còn T đi bộ một đoạn rồi bỏ trốn, đón xe ôm đi về nhà nghỉ V chờ Tr như thỏa thuận.
Cùng lúc đó Tr điều khiển xe máy Exciter của Th đến đường A bán cho người đàn ông tên Cu Lửa (chưa xác định nhân thân lai lịch) được 5.000.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt Tr mua ma túy hết 1.000.000 đồng mang đến nhà nghỉ V sử dụng chung với T, đưa cho T 1.000.000 đồng, còn lại Tr tiêu xài cá nhân.
Sáng ngày 18/10/2017, anh Th phát hiện T tại nhà nghỉ X, phường V, thành phố N và phát hiện Tr tại khu vực lầu 7, phường H, thành phố N, vì vậy anh Th đưa T và Tr đến công an phường V trình báo.
Tại cơ quan công an, Lê Thanh T và Nguyễn Minh Tr đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 339/TCKH ngày 10/10/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận: 01 xe máy hiệu Exciter biển số 79H1-xxxx trị giá 19.600.000 đồng và Bản kết luận định giá tài sản số 118/HĐĐG ngày 03/4/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 điện thoại di động Nokia X1 trị giá 243.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 139/CT-VKSNT ngày 08 tháng 5 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Lê Thanh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự 1999.
Đối với Nguyễn Minh Tr là người chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên không truy cứu trách nhiệm hình sự. Nguyễn Minh Tr đã bị Công an thành phố N ra Quyết định xử phạt hành chính số 118 ngày 23/4/2018 bằng hình thức Cảnh cáo đối với hành vi trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 139; điểm p, h khoản 1 Điều 46; điểm g, n khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Thanh T xử phạt bị cáo Lê Thanh T từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Về phần dân sự, những người bị hại không yêu cầu nên không xét, ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho chị Nguyễn Thị B số tiền 3.000.000 đồng; xử lý án phí, quyền kháng cáo theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Người bị hại anh Nguyễn Văn Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Nhận thấy việc anh Th vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên cũng như của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên và của các cơ quan tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, đúng quy định.
Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Với mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản để có tiền sử dụng ma túy và tiêu xài cá nhân, vào ngày 07 tháng 10 năm 2017 Lê Thanh T đã cùng với Nguyễn Minh Tr (chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự) có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để lừa đảo chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn Th 400.000 đồng và một xe máy hiệu Yamaha Exciter (BKS: 79H - xxxx) trị giá 19.600.000 đồng. Bị cáo T còn lừa đảo chiếm đoạt của anh Nguyễn Trúc S một điện thoại di động hiệu Nokia X1 trị giá 243.000 đồng. Tổng tài sản chiếm đoạt có giá trị 20.243.000 đồng. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố bị cáo Lê Thanh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài và sử dụng ma túy mà bị cáo đã rủ rê, xúi giục Nguyễn Minh Tr (là người chưa thành niên) thực hiện tội phạm, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của những người bị hại được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, hành vi của bị cáo còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, sau khi phạm tội đã bỏ trốn gây khó khăn cho cơ quan điều tra. Do đó, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “xúi giục người chưa thành niên phạm tội” được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự 1999. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Tuy nhiên, sau khi bị bắt theo lệnh truy nã, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tại phiên tòa bị cáo và chị Nguyễn Thị B thỏa thuận được việc bồi thường thiệt hại cho chị B và được hội đồng xét xử ghi nhận. Do vậy, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự 1999, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo an tâm cải tạo sớm trở thành công dân tốt và có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự:
Người bị hại Nguyễn Văn Th và Nguyễn Thúc S không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị B, tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho chị B 3.000.000 đồng, tiền chi phí sửa chữa chiếc xe máy bị chiếm đoạt (xe máy là tài sản chung của chị B và anh Th) và được chị B đồng ý. Xét đây là ý chí tự nguyện của các bên và không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án đã được trả lại cho những người bị hại, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với anh Nguyễn Minh Tr khi thực hiện hành vi phạm tội với chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm dân sự, nên cơ quan điều tra đã xử lý hành chính là đúng quy định.
Kiến nghị Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát điều tra xác minh người có tên Cu Lửa để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Lê Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
Căn cứ khoản 1 Điều 139; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm n khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự 1999. Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 01(một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/02/2018.
2. Về trách nhiệm dân sự:
2.1. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và chị Nguyễn Thị B. Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị B số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
2.2. Những người bị hại không yêu cầu bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Thanh T phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại Nguyễn Thúc S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị B, anh Nguyễn Minh Tr, người đại diện hợp pháp của anh Tr là bà Nguyễn Thị L được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại Nguyễn Văn Th được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - VKSND thành phố Nha Trang; - Công an thành phố Nha Trang; - Bị cáo; bị hại, - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Chi cục THADS. TP. Nha Trang; - Lưu án văn, VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phan Thanh Tùng |