- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Nguyễn Minh T - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Nguyễn Minh T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”
- Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 141/2018/HS - ST Ngày: 14 - 8 - 2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đoàn Văn Rỹ.
2. Bà Thái Thục Hiền.
Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ngon – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 128/2018/TLST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2018/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:
Võ Nguyễn Minh T; giới tính : Nam; sinh năm: 1974; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: 160/4 đường G, phường G, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 769/44/49/11 đường P, Phường B, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; học vấn: 8/12; con ông Nguyễn Văn E và bà Võ Thị Yến Đ; có vợ L Thị Kim Y, có 04 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2014 (có 01 con sinh 22/12/2010, sau đó bị bệnh mất ngày 07/01/2011); tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 17/3/1995, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cướp giật tài sản của công dân” (Bản án số: 282/HSST).
- Ngày 19/8/1996, Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 30 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân”, tổng hợp hình phạt với bản án ngày 17/3/1995, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 39 tháng 22 ngày tù (Bản án số: 142/HSST). Bị cáo T kháng cáo, đến ngày 07/12/1996, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm tuyên giảm một phần hình phạt còn 33 tháng 22 ngày tù (Bản án số: 467/HSPT). Chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 19/02/1999.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 27/10/2010; đến ngày 31/10/2010 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; ngày 01/12/2010 thay đổi biện pháp ngăn chặn áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị cáo nhưng bị cáo bỏ trốn; ngày 27/4/2011, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 ra quyết định truy nã; ngày 26/3/2018 bị cáo ra đầu thú và được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 27/10/2010, tại bãi đất trống trước số 769/44/23 Phạm Thế Hiển, Phường 4, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Cảnh sát điều tội phạm về trật tự xã hội, Công an Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Công an Quận 8 bắt quả tang Nguyễn Thanh L cùng Tống Thành H, Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Lang P, Trương Văn U, Nguyễn Văn O, Nguyễn Thanh B và Võ Nguyễn Minh T đang tổ chức cho hơn 40 người đánh bạc bằng hình thức cá độ đá gà thắng thua bằng tiền. Thu giữ tại hiện trường 02 cặp cựa sắt, 02 cuộn băng keo, 01 cân đồng hồ, 01 cái xô, 02 con gà đá. Thu giữ trong người của những đối tượng bị bắt quả tang tổng số tiền 45.550.000 đồng liên quan đến hành vi đánh bạc, 38 điện thoại di động các loại, 01 xe gắn máy biển số 51S6-3885. Khi đó, L Hoàng H, Phan Hoàng A, Phạm Công L, Tống Thành P, H, “Quỷ biển” và một số người tham gia đánh bạc (không rõ lai lịch) lợi dụng sơ hở bỏ chạy thoát. Sau đó, vụ việc được đưa về trụ sở Công an Phường 4, Quận 8 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang rồi chuyển đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 để điều tra làm rõ.
Ngày 30/10/2010 và ngày 27/01/2011 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã khởi tố bị can, tiến hành điều tra đối với Nguyễn Thanh L, Tống Thành H, Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Lang P, Trương Văn U, Nguyễn Văn O, Nguyễn Thanh B, Tống Thành P, Phạm Công L, L Hoàng H, Phan Hoàng A, Võ Nguyễn Minh T về tội “Tổ chức đánh bạc”.
Ngày 15/3/2012, Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử đối với Nguyễn Thanh L, Tống Thành H, Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Lang P, Trương Văn U, Nguyễn Văn O, Nguyễn Thanh B, Tống Thành P về tội “Tổ chức đánh bạc”; các ngày 25/4/2012, 27/9/2012 và 03/9/2014, Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử đối với Phạm Công L, L Hoàng H, Phan Hoàng A về tội “Tổ chức đánh bạc”.
Trong quá trình điều tra, do Võ Nguyễn Minh T bỏ trốn nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 ra quyết định truy nã đối với T. Đến ngày 26/3/2018, Võ Nguyễn Minh T đến Công an Quận 8 đầu thú và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Qua điều tra, Võ Nguyễn Minh T khai nhận: Do có mối quan hệ quen biết với Nguyễn Thanh L nên từ ngày 17/10/2010, T đề nghị và L đồng ý để T làm biện (thu tiền xâu bên thắng đối với con bạc) tại trường gà ở bãi đất trống trước Đình Chánh Hưng (trước số 769/44/23 Phạm Thế Hiển, Phường 4, Quận 8). Theo thỏa thuận, T phụ giúp L tổ chức đánh bạc bằng cách thu tiền xâu 5% bên thắng đối với con bạc tham gia đá hàng xáo, nếu số tiền xâu từ 500.000 đồng trở lên thì T giao lại cho L 200.000 đồng, số còn lại T hưởng; nếu số tiền xâu dưới 500.000 đồng thì T hưởng hết.
Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 27/10/2010, T đến trường gà tại bãi đất trống trước số 769/44/23 Phạm Thế Hiển, Phường 4, Quận 8 do Nguyễn Thanh L tổ chức để làm biện cho khoảng hơn 40 người tham gia đánh bạc với hình thức cá độ đá gà ăn thua bằng tiền. Đến khoảng 11 giờ 30 phút, T đang làm biện đến trận đá gà thứ tư giữa hai thanh niên (không rõ lai lịch), thu được 25.000 đồng tiền xâu (T khai đã tiêu xài hết); khi chuẩn bị làm biện đá độ gà thứ năm thì bị Công an phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên. T khai đã làm biện tại trường gà do L tổ chức được 10 ngày, thu lợi bất chính số tiền 8.000.000 đồng đã tiêu xài cá nhân hết, lời khai của T phù hợp với lời khai của Nguyễn Thanh L và các đồng phạm trong vụ án.
Các vật chứng thu giữ trong vụ án đã được giải quyết tại Bản án số 36/2012/HSST ngày 15/3/2012 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại bản Cáo trạng số 137/CT-VKS ngày 15/6/2018, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Võ Nguyễn Minh T về tội “Tổ chức đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Tại phiên tòa,
Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Sau khi bị bắt quả tang thì bị cáo được cho tại ngoại, lúc đó vợ bị cáo đang mang thai. Sau đó, Công an ra lệnh bắt giam bị cáo, bị cáo sợ không có ai lo cho vợ nên bị cáo đã bỏ trốn. Sau khi vợ bị cáo sinh con thì con bị cáo sức khỏe yếu và đã chết. Vì gia đình có chuyện buồn nên bị cáo không ra đầu thú. Nay, bị cáo đã thấy hối hận về hành vi của bị cáo nên đã ra đầu thú và xin Hội đồng xét xử xử nhẹ cho bị cáo để có thời gian lo cho vợ và con. Bị cáo đã tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính bị cáo có được.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Võ Nguyễn Minh T số tiền từ 30.00.000 đồng đến 70.000.000 đồng theo khoản 1 Điều 249, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 30, Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính 8.000.000 đồng và bị cáo đã nộp lại số tiền này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét thấy, vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 27/10/2010, tại bãi đất trống trước số 769/44/23 Phạm Thế Hiển, Phường 4, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Võ Nguyễn Minh T đã có hành vi giúp sức cho Nguyễn Thanh L tổ chức cho hơn 40 người đánh bạc trái phép với hình thức cá độ đá gà ăn thua bằng tiền, để thu tiền xâu thì bị bắt quả tang. Tổng số tiền mà các con bạc dùng đánh bạc là trên 20.000.000 đồng và số người tham gia đánh bạc là hơn 10 người. Theo Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao thì hành vi của bị cáo T là tổ chức đánh bạc thuộc trường hợp có quy mô lớn. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Võ Nguyễn Minh T đã phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Trong vụ án, bị cáo phạm tội có đồng phạm nhưng mang tính nhất thời, giản đơn, bị cáo T chỉ là người giúp sức cho Nguyễn Thanh L.
Xét thấy, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải, sau khi bỏ trốn thì bị cáo đã ra đầu thú nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, bị cáo phạm tội với vai trò giúp sức cho Nguyễn Thanh L. Sau khi bỏ trốn thì bị cáo đã ra đầu thú và tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính có được, điều này cho thấy bị cáo đã biết sai và mong muốn sửa chữa lỗi lầm của mình. Mặt khác, bị cáo khai khi bị cáo bỏ trốn thì vợ bị cáo sắp sinh con, sau khi con ra đời thì con sức khỏe yếu và chết sau đó 10 ngày và hiện tại bị cáo có con nhỏ sinh năm 2014, lời khai của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội mà áp dụng Điều 30 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) xử phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ răn đe giáo dục đối với bị cáo.
Xét thấy, đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
Trong thời gian giúp sức cho Nguyễn Thanh L tổ chức đánh bạc, bị cáo T có thu lợi bất chính số tiền 8.000.000 đồng. Do đó, cần áp dụng điểm b Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) để buộc bị cáo nộp lại số tiền này vào ngân sách nhà nước. Bị cáo đã nộp đủ số tiền này theo biên lai thu số AE/2011/03266 ngày 13/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đối với Nguyễn Thanh L, Tống Thành H, Nguyễn Thanh Đ, Nguyễn Lang P, Trương Văn U, Nguyễn Văn O, Nguyễn Thanh B, Tống Thành P, Phạm Công L, L Hoàng H, Phan Hoàng A đã bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử về tội “Tổ chức đánh bạc” vào các ngày 15/3/2012, 25/4/2012, 27/9/2012 và 03/9/2014 nên không đề cập giải quyết.
Về vật chứng: Đã được xem xét, xử lý tại Bản án số 36/2012/HSST ngày 15/3/2012 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh nên không đề cập giải quyết.
Về án phí: Theo điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Võ Nguyễn Minh T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”
Căn cứ vào khoản 1 Điều 249; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 30; Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Xử phạt bị cáo Võ Nguyễn Minh T số tiền 70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo Võ Nguyễn Minh T phải thi hành số tiền 70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng theo phương thức như sau: Vào ngày 15 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 15/10/2018, mỗi tháng bị cáo phải thi hành số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng cho đến khi thi hành xong số tiền 70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng.
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính 8.000.000 (tám triệu) đồng, để tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước. Được trừ vào số tiền 8.000.000 (tám triệu) đồng bị cáo đã nộp theo biên lai thu AE/2011/03266 ngày 13/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo đã nộp đủ số tiền thu lợi bất chính.
Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tp.Hồ Chí Minh; (1) - VKSND Tp.Hồ Chí Minh; (1) - VKSND Quận 8; (2) - Chi cục THADS Quận 8; (1) - Sở Tư pháp Tp.Hồ Chí Minh; (1) - Phòng hồ sơ NVCS (PC.53); (1) - Cơ quan điều tra Quận 8 (Đội ĐTTH); (1) - Nhà tạm giữ Quận 8; (1) - Thi hành án hình sự; (3) - Bị cáo; (1) - Lưu VT, hồ sơ vụ án. (2) (15) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Bá Hiệp |