vanban.org

Bản án 141/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 13/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc L phạm tội “Cƣớp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc L 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2017. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 42 Bộ luật Hình sự, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc L - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc L phạm tội “Cƣớp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 141/2017/HSST
Ngày 13/7/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Thiện

2. Ông Huỳnh Hoàng Thuận.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2017, tại Đình thần Bình Giao, phƣờng Bình Nhâm, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 135/2017/HSST ngày 21 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo:

Phạm Ngọc L, sinh năm 1994, tại tỉnh Tiền Giang; nơi ĐKNKTT: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: 9/12; con ông Phạm Văn D và bà Lê Thị Ánh H; tiền án: Ngày 26/3/2016 bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 100/2016 ngày 26/3/2016), chấp hành án phạt tù xong ngày 04/11/2016; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2017 cho đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1986, nơi cƣ trú: khu phố Đ, phƣờng B, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng (vắng mặt).

- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1981, nơi cƣ trú: Ấp T, xã N, huyện A, tỉnh An Giang (vắng mặt).

2. Bà Nguyễn Thị Ca C, sinh năm 1986, nơi cƣ trú: Ấp P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).

NHẬN THẤY:

Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Phạm Ngọc L về hành vi phạm tội nhƣ sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 16/01/2017, bị cáo Phạm Ngọc L điều khiển xe biển số 68E1-227.41 từ hƣớng chợ đầu mối Thủ Đức về thị xã Thuận An nhằm mục đích tìm ngƣời đi đƣờng sơ hở để cƣớp giật tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Khi đến đoạn đƣờng cầu kênh D thuộc khu phố Đ, phƣờng B, L phát hiện bà Nguyễn Thị Thu T đang dừng xe mô tô trên đƣờng để nghe điện thoại, trên tay bà T cầm di động Iphone 5S, màu trắng. L điều khiển xe áp sát phía bên trái xe mô tô của bà T và dùng tay giật điện thoại của bà T rồi tăng ga bỏ chạy nhƣng do bà T mất tay lái nên va chạm vào xe của L làm bà T và L cùng xe ngã xuống đƣờng. Bà T tri hô, đƣợc ngƣời dân hỗ trợ bắt giữ L giao cơ quan Công an giải quyết.

Theo Biên bản định giá tài sản ngày 16/01/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Thuận An xác định: Điện thoại di động hiệu Iphone 5S màu trắng trị giá 5.000.000 đồng.

Tang vật thu giữ: 01 xe mô tô biển số 68E1-227.41; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5S màu trắng.

Cáo trạng số 156/KSĐT ngày 19/6/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Phạm Ngọc L về tội “Cƣớp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố , đánh giá tính chất mức độ, hâ ̣u quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng , giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136, các điểm g, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự tuyên phạt bị cáo Phạm Ngọc L từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 09 tháng tù.

Bị cáo Phạm Ngọc L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Và đồng ý bồi thƣờng theo yêu cầu của ngƣời bị hại.

Tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ngƣời bị hại Nguyễn Thị Thu T yêu cầu bị cáo Lợi bồi thƣờng 2.200.000 đồng tiền sửa điện thoại và tiền thuốc.

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Ngọc L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu, lời khai của ngƣời bị hại và những ngƣời tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 16/01/2017, tại đoạn đƣờng cầu kênh D, thuộc khu phố Đ, phƣờng B, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng, bị cáo Phạm Ngọc L điều khiển xe mô tô biển số 68E1-227.41 ép sát vào bên trái xe mô tô do bà Nguyễn Thị Thu T đang dừng trên đƣờng để nghe điện thoại, trên tay bà T đang cầm điện thoại di động Iphone 5S màu trắng, bị cáo L đã dùng tay giật điện thoại của bà T và tăng ga tẩu thoát nhƣng do bà T mất tay lái, va chạm với xe mô tô do bị cáo L điều khiển nên cả bị cáo và bà T cùng xe ngã xuống đƣờng, bà T tri hô đƣợc ngƣời dân hỗ trợ bắt giữ bị cáo cùng tang vật.

Hành vi của bị cáo Phạm Ngọc L đã đủ yếu tố cấu thành tội Cƣớp giật tài sản. Nhƣ vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố bị cáo Phạm Ngọc L phạm tội “Cƣớp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo L dùng xe mô tô áp sát, giật tài sản của ngƣời bị hại là rất nguy hiểm cho xã hội, có thể gây nguy hiểm, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của ngƣời bị hại, ngƣời đi đƣờng và kể cả bản thân bị cáo; hành vi của bị cáo gây mất an ninh trật tự tại địa phƣơng, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt trái phép tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị xử lý nhƣng vì động cơ tham lam, tƣ lợi, ý thức xem thƣờng pháp luật và quyền sở hữu tài sản của ngƣời khác nên đã cố ý phạm tội. Ngoài ra, cùng ngày 16/01/2017 trên địa bàn quận Thủ Đức bị cáo L đã dùng thủ đoạn tƣơng tự trên đã giật điện thoại của bà Trần Thị T, vụ việc đƣợc Cơ quan CSĐT Công an quận Thủ Đức thụ lý, quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bị TAND quận Thủ Đức đƣa ra xét xử về tội Cƣớp giật tài sản đối với Phạm Ngọc L. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tƣơng xứng với tính chất hành vi phạm tội, đủ để giáo dục răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 26/3/2016 bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành án phạt tù xong ngày 04/11/2016 chƣa đƣợc xóa án tích, nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội nên thuộc tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhƣng gây thiệt hại không lớn đƣợc quy định tại các điểm g, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.

Mức hình phạt theo lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Phạm Ngọc L là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động Iphone 5S màu trắng do bị cáo chiếm đoạt, Cơ quan điều tra đã thu hồi và giao trả cho bà T. Quá trình điều tra, bà T yêu cầu bị cáo bồi thƣờng 5.000.000 đồng tiền sửa điện thoại. Tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bà T yêu cầu bị cáo bồi thƣờng số tiền 2.200.000 đồng bao gồm tiền sửa điện thoại và tiền thuốc. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thƣờng số tiền 2.200.000 đồng cho bà T nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với xe mô tô biển số 68E1-227.41 do bị cáo sử dụng làm phƣơng tiện phạm tội. Quá trình điều tra xác định xe do bị cáo mƣợn của ông Nguyễn Văn S, ngƣời đứng tên sở hữu xe là bà Nguyễn Thị Ca C (vợ ông S), khi cho bị cáo mƣợn xe ông Sơn và bà C không biết bị cáo L sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thuận An đã trả lại cho bà C là đúng quy định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc L phạm tội “Cƣớp giật tài sản”.

Áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 136; các điểm g, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự,

Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc L 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2017.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 42 Bộ luật Hình sự,

Buộc bị cáo Phạm Ngọc L bồi thƣờng cho bà Nguyễn Thị Thu T số tiền 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm nghìn đồng).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Buộc bị cáo Phạm Ngọc L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời bị hại, ngƣời có quyền và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ